Cách cục Tử Vi là gì và vì sao người học hay tra theo sơ đồ?
Cách cục Tử Vi là những tổ hợp sao có tên riêng, được ghi lại trong các sách Đẩu Số cổ, hình thành khi một nhóm chính tinh và phụ tinh cùng rơi vào những cung vị nhất định. Theo sách Vương Đình Chi đàm Đẩu Số, các cách cục như Thất Sát triều đẩu, Tử Phủ đồng cung, Nhật Nguyệt tịnh minh, Nguyệt lãng thiên môn, Cự Nhật đồng cung, Anh tinh nhập miếu, Hùng tú triều viên, Thạch trung ẩn ngọc đều được liệt kê và luận riêng. Người học thường vẽ sơ đồ 12 cung rồi đánh dấu vị trí sao, vì cách cục chỉ hiện ra khi nhìn được toàn cảnh tam phương tứ chính chứ không nằm gọn trong một cung.
Cần nói ngay một điều để tránh ngộ nhận: cách cục là một lớp đọc, không phải bản án. Cùng một tên cách, sách này có thể định nghĩa khác sách kia, và chỉ cần thêm một sát tinh như Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp thì ý nghĩa đã đổi chiều. Sách Tuyển tập bài viết Tử Vi chọn lọc số 13 kể một lá số đúng cung Mệnh Mùi, Nhật Mão Nguyệt Hợi, tức đúng thế Minh châu xuất hải, nhưng Kình Dương tọa thủ tại Mệnh khiến đương số thông minh có tài mà suốt đời thị phi, thăng trầm, đến đại vận gặp Hóa Kỵ xung Mệnh thì kiện cáo mất sự nghiệp. Đó là ví dụ cho câu "có cục mà không có thế".
Nhóm Tử Phủ: khi đế tinh và kho tinh gặp nhau
Tử Phủ đồng cung
Tử Vi và Thiên Phủ cùng tọa thủ một cung, theo dữ liệu đã cho là cùng ở Thân và Mệnh cũng an tại Thân. Theo ghi chép trong Tuyển tập bài viết Tử Vi chọn lọc số 13, cổ nhân quan niệm thế cục này mang lại phúc thọ bền lâu cùng cuộc sống ít biến động. Tuy nhiên cách này đòi hỏi Tả Phù, Hữu Bật, Thiên Khôi, Thiên Việt phù trợ mới phát huy hết tác dụng; nếu thiếu, đương số dễ bảo thủ, an phận, thiếu đột phá. Sách Vương Đình Chi đàm Đẩu Số lại đánh giá Tử Phủ đồng cung "tịnh phi thậm mỹ", tức không thật sự đẹp như tên gọi, cho thấy các phái không hoàn toàn đồng thuận về mức độ quý của cách này.

Tử Phủ triều viên
Tử Vi và Thiên Phủ ở Thân, Mệnh an tại Thìn, hai sao này chiếu về qua tam hợp. Sách Tuyển tập bài viết Tử Vi chọn lọc số 13 dẫn lời cổ nhân rằng cách này chủ bổng lộc cực lớn, phú quý tột bậc, người có cách thường làm quan to hoặc lãnh đạo tổ chức lớn. Sách Tuyển tập bài viết Tử Vi chọn lọc số 14 lại định nghĩa Tử Phủ triều viên theo cách khác: Mệnh tại Dần thì Tử Phủ ở Ngọ và Tuất chầu về, Mệnh tại Thân thì Tử Phủ ở Tý và Thìn chầu về, gọi là tượng quân thần tương phỏng. Đây là chỗ các phái định nghĩa khác nhau rõ nhất, nên khi tra sơ đồ cần ghi rõ đang theo quy ước nào. Cách này cần thêm Tả Hữu và cát tinh mới rực rỡ; gặp tứ sát thì chỉ bình thường mà còn thêm tai bệnh.

Thất Sát triều đẩu
Thất Sát ở Dần thủ Mệnh, đối cung là Tử Vi và Thiên Phủ ở Thân, tạo thế sát tinh chầu về đế tọa. Sách Vương Đình Chi đàm Đẩu Số xếp Thất Sát triều đẩu vào nhóm chủ quyền lực, còn sách Kỹ thuật xem Tử Vi đơn giản ghi cách này ứng khi Thất Sát tọa thủ Dần hoặc Thân. Điều kiện thành cách là không bị sát tinh khác phá, và bản thân Thất Sát phải đắc địa; nếu bị Tuần Triệt chặn hoặc Hỏa Linh xung phá thì quyền lực dễ thành cô độc, cứng rắn quá mức.

Hùng tú triều viên
Liêm Trinh ở Thân thủ Mệnh, đối cung là Tham Lang. Sách Tuyển tập bài viết Tử Vi chọn lọc số 14 mô tả đây là cách ly hương lập nghiệp nhưng chủ phú quý thanh danh, có thể khiến người khác kinh ngạc. Điểm yếu được ví như tiếng gáy của con gà: vang một lần rồi thôi, ý nói phú quý không bền, thường hoạnh phát thời trẻ rồi sau lặng lẽ. Người có cách này khá kiên cường, chịu khổ, nóng nảy nhưng trực tính, coi trọng hiệu suất. Vương Đình Chi đàm Đẩu Số cũng xếp Hùng tú triều viên vào nhóm chủ đoán luyện, tức đề cao sự rèn luyện của bản thân hơn là phúc trời cho.

Nhóm Nhật Nguyệt: khi mặt trời và mặt trăng cùng sáng
Minh châu xuất hải
Mệnh ở Mùi không có chính tinh, Thái Dương ở Mão, Thái Âm ở Hợi, hai sao sáng chiếu về. Sách Tuyển tập bài viết Tử Vi chọn lọc số 13 nhận xét thế cục này thuộc loại quý giá, được hình dung như viên ngọc tốt trồi lên từ đáy biển sâu, đồng thời đưa ra một lá số cụ thể của người nam sinh năm Nhâm Thân, tháng 5 âm lịch, ngày 5, giờ Tuất để minh họa: Thái Dương đóng tại Mão có Thiên Lương hóa Lộc đi kèm, Thái Âm đóng tại Hợi gặp Lộc Tồn, lại thêm Khôi Việt tại Mão và Tỵ nên khí chất quý càng tăng. Cách này phá khi Mệnh bị sát tinh xâm nhập, điển hình là Kình Dương, và khi đại vận đưa Hóa Kỵ xung Mệnh.

Nhật Nguyệt tịnh minh
Thái Dương ở Dần, Thái Âm ở Tý, cả hai đều vượng, chiếu về Mệnh. Sách Kỹ thuật xem Tử Vi đơn giản định nghĩa Nhật Nguyệt tịnh minh là khi tam phương hoặc tứ chính có cả Thái Dương và Thái Âm đều tọa thủ ở vị trí vượng địa. Sách Tuyển tập bài viết Tử Vi chọn lọc số 14 lại ghi cách này ứng khi Mệnh an tại Sửu, Thái Dương ở Tỵ, Thái Âm ở Dậu, và nhấn mạnh chính tinh cung Mệnh phải vượng cát mới hợp cách. Sách Tuyển tập bài viết Tử Vi chọn lọc số 13 đưa thêm so sánh: nếu Nhật Nguyệt tịnh minh đóng theo thế Tỵ Dậu thì cũng thuộc loại quý, nhưng xu hướng nghiêng về con đường công chức, nhà nước, ít khi giàu lên đột ngột như trường hợp Minh châu xuất hải. Sách Tử Vi kinh nghiệm quyển hạ cảnh báo Âm Dương hàm tối kỵ gặp Linh Tinh, Hỏa Tinh, Thiên Hình, Thiên Riêu, Địa Kiếp; nếu gặp Hóa Kỵ và Đà La đắc địa thì lại được coi như mây ngũ sắc chầu nhật nguyệt.

Nguyệt lãng thiên môn
Thái Âm ở Hợi thủ Mệnh. Sách Vương Đình Chi đàm Đẩu Số ghi ngắn gọn "Nguyệt lãng thiên môn hữu phá cách", tức cách này có thể bị phá, cho thấy tác giả không xem đây là cách bảo đảm phú quý. Điều kiện thành cách là Thái Âm phải sáng, không bị sát tinh như Kình, Đà, Hỏa, Linh, Không, Kiếp xâm phạm, và cần cát tinh hội chiếu. Nếu Thái Âm bị che tối hoặc đi kèm sát tinh, vẻ đẹp của trăng nơi cửa trời chỉ còn là hình thức.

Nhật lệ trung thiên
Thái Dương ở Ngọ thủ Mệnh, tức mặt trời đứng giữa trưa. Sách Tuyển tập bài viết Tử Vi chọn lọc số 14 ghi rõ điều kiện: vô sát tinh, lại thêm cát tinh mới đúng cách, và người sinh năm Canh, Tân, lại sinh ban ngày mới hợp cách. Đây là ví dụ cho thấy cách cục không chỉ phụ thuộc vị trí sao mà còn phụ thuộc can năm sinh và giờ sinh, điều mà sơ đồ tĩnh không thể hiện hết.

Cự Nhật đồng cung
Cự Môn và Thái Dương cùng ở Dần, Mệnh an tại Dần. Sách Vương Đình Chi đàm Đẩu Số xếp cách này vào nhóm lợi khẩu tài, tức lợi về ăn nói, tranh luận, giảng giải. Điều kiện thành cách là Thái Dương phải sáng và Cự Môn không bị hãm, không gặp Hóa Kỵ hoặc sát tinh biến khẩu tài thành thị phi. Nếu Cự Môn hóa Kỵ, tài ăn nói dễ quay thành tai tiếng, kiện tụng.

Nguyệt sinh thương hải
Thái Âm và Thiên Đồng cùng ở Tý thủ Mệnh. Sách Tuyển tập bài viết Tử Vi chọn lọc số 13 tách bạch rõ với Minh châu xuất hải: trường hợp Mệnh đóng tại Tý có Thái Âm đi cùng Thiên Đồng được gọi là Minh châu hải, nhưng điều kiện bắt buộc là Thái Âm tại Tý phải ở miếu địa, hoàn toàn khác với Thái Âm tại Hợi. Sự khác biệt cung vị làm thay đổi hoàn toàn ý nghĩa, nên không thể gộp hai cách làm một. Sách Tuyển tập bài viết Tử Vi chọn lọc số 7 cũng nhắc cách Minh châu hải với hình ảnh ngọc quý giữa biển khơi, Thái Âm ở Tý ví như trăng sáng đêm rằm, tài đức vẹn toàn.

Nhật Nguyệt chiếu bích
Thái Dương và Thái Âm cùng ở Sửu, Mệnh an tại Tuất, hai sao xung chiếu về Mệnh. Sách Tuyển tập bài viết Tử Vi chọn lọc số 14 định nghĩa Nhật Nguyệt chiếu mệnh đúng theo thế này: Mệnh ở Sửu thì Nhật Nguyệt cùng ở Mùi, Mệnh ở Mùi thì Nhật Nguyệt cùng ở Sửu, xung chiếu nhau. Sách Tử Vi kinh nghiệm quyển hạ dẫn phú đoán rằng mấy người bất hiển công danh chỉ vì Nhật Nguyệt đồng tranh Sửu Mùi, nhưng nếu gặp Tả Phù, Hữu Bật, Văn Khúc, Văn Xương thì lại hiển danh. Như vậy cùng một thế sao, kết quả đảo chiều tùy phụ tinh đi kèm.

Nhật Nguyệt giáp mệnh
Mệnh ở Mùi, kẹp giữa Thái Dương ở Ngọ và Thái Âm ở Thân, hai sao giáp hai bên Mệnh. Sách Tuyển tập bài viết Tử Vi chọn lọc số 14 ghi Nhật Nguyệt giáp mệnh ứng khi Mệnh cư Sửu Mùi, Nhật Nguyệt miếu vượng giáp nhau ở hai cung bên cạnh, và yêu cầu chính tinh cung Mệnh vượng cát mới hợp cách. Nghĩa là bản thân cung Mệnh phải có chính tinh tốt, nếu không thì hai vầng sáng kẹp bên chỉ là khung cảnh đẹp mà ruột rỗng.

Nhóm sát tinh và cách đặc thù: khi cái mạnh phải được tiết chế
Thạch trung ẩn ngọc
Cự Môn ở Ngọ thủ Mệnh. Sách Kỹ thuật xem Tử Vi đơn giản ghi Thạch trung ẩn ngọc ứng khi Cự Môn tọa thủ cung Tý hoặc cung Ngọ. Sách Vương Đình Chi đàm Đẩu Số lại chú "Thạch trung ẩn ngọc kết cấu bổ tạp", tức kết cấu cách này phức tạp, không thuần nhất. Sách Tuyển tập bài viết Tử Vi chọn lọc số 13 luận giải bản chất Cự Môn vốn là sao của khẩu tài, tranh luận, thị phi; chỉ khi đóng ở miếu vượng như Tý Ngọ mới đủ sức ngậm ngọc mà phát huy tài năng, còn khi đóng tại Dậu thì rơi vào hãm địa, sức mạnh bị bào mòn, dù hóa Lộc, hóa Quyền, hóa Khoa cũng chỉ như lửa rơm cháy sáng một thời rồi tàn.

Anh tinh nhập miếu
Phá Quân ở Ngọ thủ Mệnh. Sách Vương Đình Chi đàm Đẩu Số ghi "Anh tinh nhập miếu nghi loạn bất nghi trì", nghĩa là cách này hợp với thời biến động, không hợp với sự trì trệ, ổn định. Điều kiện thành cách là Phá Quân phải đắc địa và không bị sát tinh phá; nếu gặp nhiều sát tinh, tinh thần phá cách dễ biến thành hao tán. Sách Tuyển tập bài viết Tử Vi chọn lọc số 17 lưu ý thêm: khi có sát tinh nhưng lại được Địa Không, Địa Kiếp đi kèm, một số trường hợp vẫn có thể thành công từ lý tưởng lớn, vì Không Kiếp phá khuôn mẫu cũ để mở không gian sáng tạo, nhưng chỉ khi các sao tốt khác đủ mạnh chế ngự, nếu không thì vẫn là phá cách.

Tham Vũ đồng hành
Vũ Khúc và Tham Lang cùng ở Sửu, Mệnh an tại Sửu. Theo ghi chép trong Tử Vi kinh nghiệm quyển hạ, Tham Vũ đồng hành tại Sửu Mùi chỉ thực sự tốt khi có Quyền Lộc đi kèm, theo thế tiền bần hậu phú, tức trước nghèo sau giàu. Điều kiện thành cách nằm ở chỗ phải có Hóa Quyền, Hóa Lộc hoặc Lộc Tồn hội chiếu; thiếu Lộc thì hai sao này dễ rơi vào tham lam, hao tán. Đây là ví dụ cho thấy cùng một tổ hợp sao, chỉ khác tứ Hóa mà ý nghĩa đã đổi hẳn.

Cơ Nguyệt Đồng Lương
Thiên Cơ và Thái Âm ở Thân thủ Mệnh, Thiên Lương ở Tý, Thiên Đồng ở Thìn. Sách Vương Đình Chi đàm Đẩu Số ghi ngắn "Cơ Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân", tức cách này thường gắn với người làm việc công, thư lại, nhân viên, công chức hơn là đại thương đại phú. Điều kiện thành cách là bộ sao này phải hội được Văn Xương, Văn Khúc, Tả Hữu, Lộc Tồn; nếu gặp sát tinh thì dễ thành người ôm nhiều toan tính mà ít thành tựu. Cách này cũng là một trong những cách có định nghĩa khác nhau giữa các phái, nên khi tra sơ đồ phải ghi rõ quy ước đang dùng.

Vì sao cùng một tên cách mà sách lại luận khác nhau?
Có ba lý do chính. Thứ nhất, các sách cổ dùng hệ thống an sao và định nghĩa cung vị khác nhau, nên cùng một tên cách có thể ứng với hai thế sao khác nhau, như Tử Phủ triều viên được Tuyển tập bài viết Tử Vi chọn lọc số 13 và số 14 định nghĩa không giống nhau. Thứ hai, cách cục không đứng một mình mà phải đặt trong toàn cục tứ Hóa, Tuần Triệt, sát tinh, nên hai lá số cùng tên cách có thể cho kết quả trái ngược, như trường hợp Kình Dương tọa Mệnh phá thế Minh châu xuất hải. Thứ ba, quan điểm của người viết khác nhau: Vương Đình Chi đàm Đẩu Số có xu hướng đánh giá thấp một số cách mà sách khác ca ngợi, chẳng hạn Tử Phủ đồng cung bị xem là "tịnh phi thậm mỹ", hay Thất Sát triều đẩu được nhấn mạnh về quyền lực hơn là phúc lộc.
Vì vậy, khi dùng sơ đồ để tra cách cục, nên làm ba việc: ghi rõ đang theo quy ước của sách nào, kiểm tra đồng thời sát tinh và Tuần Triệt, và xem tứ Hóa năm sinh có phá thế hay không. Cách cục là một lớp đọc giúp định hướng, không phải lời tuyên án cố định cho một đời người.
Mười sáu cách cục nằm ở đâu trên lá số?
Bảng dưới ghi vị trí sao theo đúng các sơ đồ trong bài, vẽ lại từ sách của Từ Tăng Sinh; vị trí 14 chính tinh trên mỗi sơ đồ đã được đối chiếu với phép an sao.
| Cách cục | Vị trí sao |
|---|---|
| Tử Phủ đồng cung | Tử Vi và Thiên Phủ cùng ở Thân, Mệnh ở Thân |
| Tử Phủ triều viên | Tử Vi và Thiên Phủ ở Thân, Mệnh ở Thìn, nhận chiếu qua tam hợp |
| Minh châu xuất hải | Mệnh ở Mùi không có chính tinh, Thái Dương ở Mão, Thái Âm ở Hợi |
| Nhật Nguyệt tịnh minh | Thái Dương ở Dần, Thái Âm ở Tý, cả hai đều vượng |
| Nguyệt lãng thiên môn | Thái Âm ở Hợi thủ Mệnh |
| Cơ Nguyệt Đồng Lương | Thiên Cơ và Thái Âm ở Thân thủ Mệnh, Thiên Lương ở Tý, Thiên Đồng ở Thìn |
| Thạch trung ẩn ngọc | Cự Môn ở Ngọ thủ Mệnh |
| Nhật lệ trung thiên | Thái Dương ở Ngọ thủ Mệnh |
| Cự Nhật đồng cung | Cự Môn và Thái Dương cùng ở Dần, Mệnh ở Dần |
| Nguyệt sinh thương hải | Thái Âm và Thiên Đồng ở Tý thủ Mệnh |
| Nhật Nguyệt chiếu bích | Thái Dương và Thái Âm cùng ở Sửu, Mệnh ở Tuất |
| Tham Vũ đồng hành | Vũ Khúc và Tham Lang cùng ở Sửu, Mệnh ở Sửu |
| Nhật Nguyệt giáp mệnh | Mệnh ở Mùi, kẹp giữa Thái Dương ở Ngọ và Thái Âm ở Thân |
| Anh tinh nhập miếu | Phá Quân ở Ngọ thủ Mệnh |
| Thất Sát triều đẩu | Thất Sát ở Dần thủ Mệnh, đối cung Tử Vi và Thiên Phủ ở Thân |
| Hùng tú triều viên | Liêm Trinh ở Thân thủ Mệnh |
