
TL;DR: Các sách Tử Vi Việt Nam không dùng chung một thứ tự đọc lá số, nhưng đều đi từ gốc tới ngọn. Bài này xếp thành bảy bước: Mệnh và Thân, Cục và vị trí Tử Vi, chính tinh, tam phương tứ chính, phụ tinh, đại hạn, tiểu hạn; đây là cách sắp xếp của bài, dựa trên mười hai điều phải chú ý của Tử Vi đẩu số tân biên (Vân Đằng Thái Thứ Lang) và năm loại yếu tố của Tử Vi tổng hợp (Nguyễn Phát Lộc). Tử Vi tổng hợp viết Mệnh, Thân là gốc, đại hạn là ngọn, tiểu hạn không lấn át được đại hạn. Đây là cách đọc tham khảo của một số sách, không phải một chuẩn duy nhất cho mọi phái Tử Vi.
Cách đọc một lá số Tử Vi theo thứ tự nào cho đúng?
Các sách Tử Vi Việt Nam không dùng chung một thứ tự đọc lá số. Hai sách có phần phương pháp là Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang và Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc đều đi từ gốc tới ngọn: tương quan âm dương ngũ hành, Bản Mệnh và Cục, cung Mệnh và cung Thân trước, các sao sau, vận hạn sau cùng[4][1]. Bài này xếp các điều ấy thành bảy bước: Mệnh và Thân, Cục và vị trí Tử Vi, chính tinh, tam phương tứ chính, phụ tinh, đại hạn, tiểu hạn. Bảy bước là cách sắp xếp của bài cho dễ theo, không phải thứ tự của riêng sách nào. Tử Vi tổng hợp viết Mệnh, Thân là gốc, đại hạn chỉ là ngọn, và tiểu hạn không lấn át được đại hạn[1].
Mệnh và Thân: đọc cái gốc trước hay đọc cái ngọn trước?
Đọc cái gốc trước. Tử Vi tổng hợp coi Mệnh và Thân là hai khuôn khổ dài hạn: đại hạn thuộc tiền vận nằm trong khuôn khổ của cung Mệnh, đại hạn thuộc hậu vận lồng trong cung Thân. Sách có nêu quan điểm cho rằng đại hạn tốt thì hay hơn Mệnh, Thân tốt, rồi bác lại: chính Mệnh, Thân đóng khung cái tốt xấu của đại hạn, cái tốt xấu của đại hạn chỉ biến thiên trong khuôn khổ ấy[1].
Sách Tử Vi áo bí biện chứng học của Việt Viêm Tử cũng dạy khi quan sát một lá số nên hợp chung Mệnh, Thân, Tài, Quan lại mà xem được bộ nào, trước hết xem chính tinh cư Mệnh và Thân hợp với hành của Bản Mệnh là tốt hay khắc chế hành của Bản Mệnh là xấu[2]. Như vậy hai sách tuy khác cách diễn đạt nhưng cùng một ý: Mệnh và Thân là cửa vào.
Cục và vị trí Tử Vi: đọc con số hay đọc vị trí?
Cục không đứng riêng mà gắn với vị trí của sao Tử Vi trên 12 cung. Phần lập lá số của Tử Vi áo bí biện chứng học kiểm lại các bước theo thứ tự: lập Mệnh, an Thân, tìm Cục, phân định âm dương của đương số, rồi dùng khẩu quyết của Cục để tìm vị trí Tử Vi (thí dụ của sách là Long Ngưu Hổ của Mộc tam cục), sau đó an chòm Tử Vi gồm sáu chính tinh và chòm Thiên Phủ gồm tám chính tinh[2]. Khi đọc, hai sách xét Cục trong tương quan với Bản Mệnh nhưng xếp hạng khác nhau: Tử Vi đẩu số tân biên cho Bản Mệnh sinh Cục là tốt hơn Cục sinh Bản Mệnh[4], còn Tử Vi tổng hợp xếp Cục sinh Bản Mệnh tốt nhất, Bản Mệnh sinh Cục tốt nhì[1].
Sách Tử Vi nghiệm lý toàn thư của Thiên Lương bàn kỹ về Nhật Nguyệt như bộ âm dương của số, biểu tượng cho Thiên Địa, và cho rằng phải phân tích thận trọng từng vị trí[3]. Cùng một sao Thái Dương, đứng ở Ngọ khác với đứng ở Tỵ, ở Thìn, ở Mão, ở Dần, ở Sửu hay ở Mùi[3]. Đây là lý do vì sao bước đọc Cục và vị trí không thể tách rời bước đọc chính tinh.
Chính tinh và tam phương tứ chính: đọc một cung hay đọc cả bốn cung?
Đọc cả bốn cung. Tử Vi đẩu số tân biên dặn muốn xem một cung thì phải xem cả hai cung tam hợp chiếu của nó, một cung xung chiếu và một cung nhị hợp[4]. Tính từ cung đang xem, hai cung tam hợp là cung thứ năm và cung thứ chín, cung xung chiếu là cung thứ bảy; cung đang xem cùng ba cung chiếu ấy thường được gọi là tam phương tứ chính. Tử Vi tổng hợp ghi thêm ý kiến của một số người cho rằng sao thủ mạnh hơn sao chiếu, xung chiếu mạnh hơn tam chiếu[1].
Cách là tên gọi một bộ chính tinh hội về các cung ấy. Tử Vi tổng hợp kể các cách của chính tinh như Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Liêm Tham, Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật[1]. Tử Vi áo bí biện chứng học dặn hợp chung Mệnh, Tài, Quan xem được cách nào, thí dụ Tử Phủ hay Sát Phá[2]; Tài Bạch và Quan Lộc chính là hai cung tam hợp của cung Mệnh. Theo phép an sao, Tham Lang, Thất Sát, Phá Quân luôn cách nhau bốn cung, nên một sao ở cung Mệnh thì hai sao kia ở Tài Bạch và Quan Lộc.
| Bước đọc | Đọc cái gì | Vì sao đọc ở bước này |
|---|---|---|
| 1. Mệnh, Thân | Chính tinh tọa thủ, hành của Bản Mệnh | Mệnh, Thân đóng khung cái tốt xấu của đại hạn[1] |
| 2. Cục và vị trí Tử Vi | Cục, tương quan Cục với Bản Mệnh, vị trí Tử Vi | Vị trí Tử Vi tìm theo Cục và ngày sinh[2] |
| 3. Chính tinh | Tính chất sao, miếu, vượng, đắc hay hãm địa | Cùng một sao, vị trí khác thì luận khác[3] |
| 4. Tam phương tứ chính | Hai cung tam hợp và cung xung chiếu | Xem một cung phải xem cả các cung chiếu[4] |
| 5. Phụ tinh | Tứ Hóa, Lục Sát, sao khác | Phụ tinh gia giảm, bổ túc cho chính tinh[1] |
| 6. Đại hạn | Cung nhập hạn mười năm | Là gốc của mười tiểu hạn[1] |
| 7. Tiểu hạn | Cung nhập hạn một năm | Chỉ gia giảm cho đại hạn[1] |
Phụ tinh: đọc sát tinh và tứ Hóa ở đâu trong thứ tự?
Đọc sau khi đã nắm chính tinh và các cung chiếu. Tử Vi tổng hợp viết chính tinh quyết định bản chất sự việc, phụ tinh chỉ gia giảm, bổ túc[1]. Trong mười hai điều của Tử Vi đẩu số tân biên, Tứ Hóa (Hóa Lộc, Hóa Quyền, Hóa Khoa, Hóa Kỵ) và Lục Sát (Kình Dương, Đà La, Hỏa Tinh, Linh Tinh, Địa Không, Địa Kiếp) đứng ngay sau chính tinh các cung[4]. Tử Vi áo bí biện chứng học nêu thí dụ về bộ sao kỵ nhau: Mệnh, Tài, Quan có cách Tử Phủ mà hạn có Không Kiếp thì sách cho là tối kỵ, cách Nhật Nguyệt kỵ hạn Dương Đà, Cơ Nguyệt Đồng Lương tối kỵ Hỏa Linh[2].
Tử Vi đẩu số tân biên định nghĩa sao sáng sủa tốt đẹp là sao có đặc tính tốt hay ở miếu địa, vượng địa, đắc địa; sao mờ ám xấu xa là sao có đặc tính xấu hay ở hãm địa[4]. Lời luận của sách về từng phụ tinh đều chia theo hai thế ấy, nên phụ tinh không đọc một mình mà đọc theo bộ và theo thế hội hợp.
Đại hạn và tiểu hạn: đọc cái nào trước, cái nào sau?
Đọc đại hạn trước, tiểu hạn sau, và luôn đặt tiểu hạn trong khuôn khổ đại hạn. Sách Tử Vi tổng hợp cho rằng đại hạn chính là nền tảng của mười tiểu hạn, nó quyết định xu hướng chung tốt hay xấu của từng năm; nếu tiểu hạn tốt thì cũng chỉ bổ sung thêm cái tốt, chứ không thể tốt tới mức lấn át được cái xấu vốn có của đại hạn[1]. Sách cũng lưu ý rằng hạn nhỏ buộc phải được đối chiếu với hạn lớn, bởi nó chỉ nằm gọn trong khuôn khổ của hạn lớn; và mỗi khi xem một đại hạn, ta luôn phải đặt đại hạn ấy bên trong khuôn khổ của Mệnh hoặc của Thân[1].
Sách Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang có trình bày cách luận đoán vận hạn, bao gồm việc quan sát gốc đại hạn mười năm, lưu đại hạn một năm, lưu niên tiểu hạn một năm, kế đó xét mối tương sinh tương khắc giữa cung nhập hạn với Bản Mệnh, giữa cung nhập hạn với chính diệu nhập hạn, và giữa chính diệu nhập hạn với Bản Mệnh. Sách cũng nhắc nhở rằng khi luận vận hạn, ngoài việc xem gốc đại hạn mười năm, lưu đại hạn một năm và lưu niên tiểu hạn, còn phải để ý tới ảnh hưởng của các sao lưu động như Thái Tuế, Tang Môn, Bạch Hổ, Thiên Khốc, Thiên Hư, Lộc Tồn, Kình Dương, Đà La và Thiên Mã[4].
Vì sao các sách không hoàn toàn thống nhất về thứ tự?
Vì mỗi sách xếp theo một cách. Tử Vi đẩu số tân biên mở phần luận đoán bằng mười hai điều phải chú ý, theo thứ tự: thuận lý hay nghịch lý, tương sinh hay tương khắc, tương hợp hay tương phá của năm, tháng, ngày, giờ sinh; Bản Mệnh và Cục; năm sinh và cung Mệnh; chính tinh cung Mệnh; cung Mệnh và cung Thân; cung Phúc Đức; chính tinh các cung; Tứ Hóa; Lục Sát; sau cùng là vận hạn[4]. Tử Vi tổng hợp chia các yếu tố phải cứu xét thành năm loại: âm dương ngũ hành, cách và cục, cung, sao, rồi hạn[1]. Tử Vi áo bí biện chứng học thì dặn hợp chung Mệnh, Thân, Tài, Quan lại xem được bộ nào, rồi mới phân luận mức độ tốt xấu khi lưu đại hạn hoặc tiểu hạn[2]. Ba sách cùng đặt Mệnh trước, hạn sau, nhưng không trùng nhau ở phần giữa: Tử Vi đẩu số tân biên xét cung Phúc Đức trước chính tinh các cung, còn bảy bước của bài này không có bước riêng cho cung Phúc Đức.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: đọc theo lớp, đừng đọc theo cung rời
Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi tự đọc một lá số, hãy đi theo bảy lớp như bảng ở trên, mỗi lớp ghi lại một câu kết luận ngắn trước khi sang lớp sau. Đừng vội kết luận ở lớp Mệnh khi chưa xem tam phương tứ chính, và đừng vội kết luận ở lớp đại hạn khi chưa đối chiếu với Mệnh và Thân. Cách này giúp tránh hai lỗi thường gặp: một là thấy sao tốt ở Mệnh đã mừng, hai là thấy sát tinh ở hạn đã lo, trong khi sách Tử Vi tổng hợp nói rõ hạn nhỏ chỉ làm gia giảm cho hạn lớn và ít khi làm thay đổi sâu xa đặc tính của hạn lớn[1].
Cần nói thêm rằng Tử Vi là một môn thuật số có quy ước riêng, không phải một phương pháp khoa học đã được kiểm chứng. Các sách Tử Vi Việt Nam trình bày cách luận đoán theo hệ thống của môn ấy, và người đọc nên tiếp nhận như một cách chiêm nghiệm văn hóa, không phải một kết luận chắc chắn về vận mệnh hay tài chính của một người cụ thể.
