Tri thức / Đông phương / Tử Vi Đẩu Số

Tử vi

Cơ Nguyệt Đồng Lương là cách gì và vì sao sách nói 'tác lại nhân'?

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Cơ Nguyệt Đồng Lương là cách gì và vì sao sách nói 'tác lại nhân'?

TL;DR: Theo Tử Vi Việt Nam, Cơ Nguyệt Đồng Lương là cách có bốn chính tinh Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng, Thiên Lương ở ba cung Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc (định nghĩa của Tử Vi áo bí biện chứng học). Câu phú "Cơ, Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân" được Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang giải là thường làm công chức; cũng sách ấy xếp cách này vào thượng cách khi các sao sáng sủa và đủ sao phò tá, không thì vào trung cách với các nghề thầy thuốc, thầy giáo, viết báo.

Cơ Nguyệt Đồng Lương là cách gì?

Cơ Nguyệt Đồng Lương là tên gọi tắt của một cách trong Tử Vi, gồm bốn chính tinh Thiên Cơ, Thái Âm (Nguyệt), Thiên Đồng, Thiên Lương. Bài này trình bày cách hiểu theo Tử Vi Việt Nam, dựa trên Tử Vi áo bí biện chứng học của Việt Viêm Tử, Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang và Tử Vi nghiệm lý của Thiên Lương. Việt Viêm Tử định nghĩa: ba cung Mệnh, Tài, Quan có các sao Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng và Thiên Lương thì gọi là Cơ Nguyệt Đồng Lương cách[1]. Sách xếp đây là một trong bốn cách, cùng với Tử Phủ Vũ Tướng, Sát Phá Tham và Nhật Nguyệt.

Theo phép an chính tinh, bốn sao này cùng nằm trong một tam hợp khi Tử Vi ở cung âm (Sửu, Mão, Tỵ, Mùi, Dậu, Hợi); bốn sao không bao giờ cùng một cung, nhưng có lúc hai sao đồng cung. Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang chép trường hợp cung Mệnh an tại Dần hoặc Thân có Thiên Cơ và Thái Âm tọa thủ đồng cung[2], và trường hợp cung Mệnh tại Thìn hoặc Tuất có Thiên Cơ và Thiên Lương tọa thủ đồng cung[2].

Vì sao gọi là "tác lại nhân"?

Câu "Cơ, Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân" là một câu phú được cả Tử Vi đẩu số tân biên và Tử Vi áo bí biện chứng học chép lại. Vân Đằng Thái Thứ Lang giải: "Cung Mệnh có Cơ, Nguyệt, Đồng Lương hội hợp, thường là công chức"[2]. Chữ "lại" (吏) là nha lại, người làm việc giấy tờ trong công sở thời xưa, nên "tác lại nhân" là làm người viên chức.

Việt Viêm Tử không coi đây là cách thấp. Sách viết rằng mỗi cách có tính lý chủ trì khác nhau, và lá số quý nhất thì cách nào trong bốn cách cũng có thể đạt, tùy chính tinh của cách ấy có ở miếu địa và có trung tinh, tiểu tinh phò tá đắc lực hay không; nhưng cũng theo sách, cách Tử Phủ vẫn là cách biểu thị sự dễ thành công lớn hơn các cách kia[1].

Bốn sao trong cách cục có vai trò gì?

Vân Đằng Thái Thứ Lang ghi Thiên Cơ là thiện tinh, Thái Âm là phú tinh, Thiên Đồng là phúc tinh, Thiên Lương là thọ tinh[2]. Thiên Lương viết: "Bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương chủ về tư tưởng tinh thần"[3]; theo ông, Thiên Cơ trội về khéo léo ngoại giao, Thiên Đồng kém quyết định nên hay thay đổi, còn Thiên Lương thì khoan hòa.

Tử Vi đẩu số tân biên chép các tổ hợp cụ thể. Cung Mệnh tại Dần hoặc Thân có Cơ, Nguyệt tọa thủ đồng cung gặp Xương, Riêu hội hợp thì "nên hay làm thơ văn"[2]. Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương tại Dần, Thân, Thìn, Tuất gặp Xương, Khúc, Tả, Hữu thì "Nên chuyên nghề thầy thuốc, nếu dạy học cũng nổi tiếng"[2].

Bảng dưới đây tóm tắt các tổ hợp Cơ Nguyệt Đồng Lương thường gặp và nghề nghiệp tương ứng theo Tử Vi đẩu số tân biên:

Tổ hợpĐiều kiệnLời của Tử Vi đẩu số tân biên
Cơ, Nguyệt đồng cung tại Dần, ThânGặp Xương, Riêu hội hợpHay làm thơ văn
Cơ, Lương đồng cung tại Thìn, TuấtKhông thêm điều kiệnHọc rộng tài cao, hay bàn xét chính lược, chiến lược
Cơ, Lương đồng cung tại Thìn, TuấtGặp Kình, Đà, Hỏa, Linh hội hợp, Tướng xung chiếuVõ sỹ giang hồ hay thầy tu
Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương tại Dần, Thân, Thìn, TuấtGặp Xương, Khúc, Tả, HữuChuyên nghề thầy thuốc, dạy học cũng nổi tiếng
Cơ, Nguyệt, Đồng, LươngHội Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Khôi, Việt, Xương, Khúc, TấuLàm thầy giáo, viết báo
Cơ, Nguyệt, Đồng, LươngHội Tả, Hữu, Xương, KhúcMở nhà in, làm tiểu công nghệ hay buôn bán khá giả
Cơ, Nguyệt, Đồng, LươngHội Tả, Hữu, Xương, Khúc, Thai, CáoCông chức nhỏ, lý trưởng, chánh tổng

Cơ Nguyệt Đồng Lương khác gì Tử Phủ Vũ Tướng và Sát Phá Tham?

Việt Viêm Tử phân bốn cách theo chính tinh ở ba cung Mệnh, Tài, Quan: Tử Phủ Vũ Tướng; Sát Phá Tham gồm Thất Sát, Phá Quân, Tham Lang, có thêm Liêm Trinh hoặc Vũ Khúc vẫn gọi tắt như vậy; Nhật Nguyệt gồm Thái Dương và Thái Âm; và Cơ Nguyệt Đồng Lương[1].

Vân Đằng Thái Thứ Lang xếp Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương vào thượng cách khi các sao nhập miếu, vượng hay đắc địa và hội Tả, Hữu, Xương, Khúc, Khôi, Việt, Long, Phượng, Đào, Hồng, Khoa, Quyền, Lộc[2]. Không được hoàn toàn như vậy thì vào trung cách, gồm những nghề nghiệp, chức vị "khá giả, nhưng không được rực rỡ hiển hách"[2].

Vì sao Cơ Nguyệt Đồng Lương thường gắn với nghề công chức, thầy thuốc, giáo viên?

Mối liên hệ ấy nằm ngay trong lời các sách chép cho từng tổ hợp sao, bắt đầu từ câu phú "tác lại nhân".

Tử Vi đẩu số tân biên chép: Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương cùng Khoa, Tả, Hữu, Quang, Quý, Quan, Phúc thì "Vinh hiển trong nghề làm thuốc, được nhiều người kính trọng"[2]. Trong phần trung cách, cũng sách ấy ghi Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương hội Tả, Hữu, Quang, Quý, Quan, Phúc thì "làm thầy thuốc có danh tiếng", hội Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Khôi, Việt, Xương, Khúc, Tấu thì "làm thầy giáo, viết báo"[2].

Cơ Nguyệt Đồng Lương có phải lúc nào cũng tốt?

Không hẳn. Việt Viêm Tử viết rằng mỗi cách cục có tính lý chủ trì khác nhau, nên các bộ sao trung tinh và tiểu tinh đi theo phù tá cũng khác nhau[1]. Chẳng hạn, khi đi cùng cách Tử Phủ Vũ Tướng, bộ sao Tả Hữu tỏ ra hợp và đắc lực hơn so với khi đi cùng cách Nhật Nguyệt[1].

Ngoài ra, Tử Vi đẩu số tân biên chép câu phú "Cơ, Lương đồng chiếu Mệnh Thân Không, vi tăng đạo" và giải: cung Mệnh hay cung Thân có Tuần, Triệt án ngữ, có Cơ, Lương đồng cung chiếu, "tất là thầy tu"[2]. Theo sách, đây không còn là lời luận về công chức nữa mà về người xuất gia.

Đối chiếu quan điểm giữa các sách

Các sách Tử Vi Việt Nam có cách phân loại và luận giải Cơ Nguyệt Đồng Lương tương đối thống nhất về đặc tính chung, nhưng khác nhau ở mức độ chi tiết. Sách Tử Vi áo bí biện chứng học của Việt Viêm Tử định nghĩa cách cục dựa trên ba cung Mệnh, Tài, Quan có đủ bốn sao[1]. Sách Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang lại đi sâu vào từng tổ hợp cụ thể tại từng cung, với các nghề nghiệp tương ứng[2].

Thiên Lương không liệt kê nghề nghiệp. Ông chia mười bốn chính tinh thành hai phái, Sát Phá Liêm Tham cùng Tử Phủ Vũ Tướng một phái, "Cơ Nguyệt Đồng Lương, Cự Nhật lập thành một phái"[3], và viết rằng các bộ sao ấy "phải tập hợp dưới thế đứng chân vạc làm tam hợp mới đủ cách"[3].

Gợi ý của Nhật Nguyệt khi tra cứu cách Cơ Nguyệt Đồng Lương

Khi tra một lá số có cách Cơ Nguyệt Đồng Lương, nên xem bốn sao có đủ trong ba cung Mệnh, Tài, Quan hay không, từng sao ở mức miếu, vượng, đắc hay hãm, và những sao nào hội hợp, vì lời luận trong Tử Vi đẩu số tân biên đổi theo từng bộ sao đi kèm[2].

Các nghề nêu trên là lời luận của một cuốn sách Tử Vi in năm 1956 cho từng tổ hợp sao; đó là cách hiểu của một trường phái, không phải kết luận về nghề nghiệp của bất kỳ ai.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Cơ Nguyệt Đồng Lương là gì?

Cơ Nguyệt Đồng Lương là cách cục trong Tử Vi Đẩu Số, gồm bốn chính tinh Thiên Cơ, Thái Âm, Thiên Đồng và Thiên Lương hội tụ tại ba cung Mệnh, Tài Bạch, Quan Lộc. Sách Tử Vi áo bí biện chứng học của Việt Viêm Tử định nghĩa: ba cung Mệnh, Tài, Quan có các sao này gọi là Cơ Nguyệt Đồng Lương cách.

Vì sao sách nói "Cơ, Nguyệt Đồng Lương tác lại nhân"?

Câu phú này có trong Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang và Tử Vi áo bí biện chứng học của Việt Viêm Tử. Chữ "lại" là nha lại, viên chức; Tân biên giải rằng cung Mệnh có Cơ, Nguyệt, Đồng, Lương hội hợp thì thường là công chức.

Người có cách Cơ Nguyệt Đồng Lương thường làm nghề gì?

Theo Tử Vi đẩu số tân biên, tuỳ theo bộ sao phò tá đi kèm mà nghề nghiệp có thể khác nhau. Nếu hội Tả, Hữu, Quang, Qúy, Quan, Phúc thì làm thầy thuốc có danh tiếng. Nếu hội Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Khôi, Việt, Xương, Khúc, Tấu thì làm thầy giáo, viết báo. Nếu hội Tả, Hữu, Xương, Khúc thì mở nhà in, làm tiểu công nghệ hoặc buôn bán khá giả.

Bài này thuộc chủ đề Tử Vi Đẩu Số. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Tử Vi Đẩu Số.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefViệt Viêm Tử (Hà Lạc Dã Phu). Tử Vi áo bí biện chứng học
  2. ↑ abcdefghijklmVân Đằng Thái Thứ Lang (1956). Tử Vi đẩu số tân biên. Sài Gòn
  3. ↑ abcThiên Lương. Tử Vi nghiệm lý toàn thư (Tử Vi nghiệm lý, in lần đầu 1974)
#CơNguyệtĐồngLương#TửViĐẩuSố#CáchCụcTửVi#TácLạiNhân#ThiênCơ#TháiÂm#ThiênĐồng#ThiênLương#TửViĐẩuSốTânBiên#TửViÁoBí