Chính Thần và Linh Thần là gì?
Chính Thần là phương vị đang đương vận, tức phương ứng với sao đang cai quản vận hiện hành. Linh Thần là cung nằm đối xứng với Chính Thần qua tâm, tức phương vị đã qua vận, mang khí suy bại. Theo Thẩm Trúc Nhưng trong Trạch vận tân án, sách này dẫn lại lời của Tưởng Đại Hồng ở Dương trạch chỉ tiến: ở phương Chính Thần thì nên mở cửa để nạp khí và kỵ nhìn thấy nước, còn ở phương Linh Thần thì nên nhìn thấy nước và kỵ mở cửa nạp khí. Đây là quy tắc gốc để hiểu vì sao cùng một khối nước, đặt ở phương này là tốt mà đặt ở phương kia lại thành hại.
Cần phân biệt bốn khái niệm thường bị lẫn: phương Chính Thần, phương Linh Thần, Chính Thủy và Linh Thủy. Phương Chính Thần là phương đương vận, phương Linh Thần là phương thất vận. Nhưng nước đặt ở phương Chính Thần lại bị gọi là Linh Thủy, vì nó rơi vào chỗ khí đang vượng nên phản tác dụng. Nước đặt ở phương Linh Thần lại được gọi là Chính Thủy, vì vị trí ấy đang suy, mà Thủy thì lấy chỗ suy làm chỗ vượng. Nói cách khác, cái tên đi ngược với tên phương là có chủ ý, để nhắc người học rằng nước và khí vận hành theo hai chiều khác nhau.
Thẩm Trúc Nhưng cũng lưu ý rằng ở phương Chính Thần nếu thấy nước thì chủ về lỡ vận, thất vận, hao tài. Ở phương Linh Thần mà thấy sông, biển, đầm, hồ thì dòng nước ấy được xem là nước vượng cho tiền của. Đây là cách nói mang tính quy ước của phái Huyền Không, không phải một khẳng định tuyệt đối về tài chính của bất kỳ gia đình cụ thể nào, vì còn phải đặt trong toàn bộ tinh bàn, hình thế và thời gian.
Vì sao gọi là Linh Thủy mà không gọi là Chính Thủy?
Câu hỏi này được Thẩm Trúc Nhưng nêu thẳng trong Trạch vận tân án, và chính ông ghi nhận rằng nhiều người học vẫn thấy nghịch lý. Cách giải thích nằm ở chữ Chính và chữ Linh. Chính Thần là khí đúng vận, Linh Thần là khí lỡ vận. Thủy lại không hành xử như khí: nó cần chỗ suy để phát huy, chỗ vượng thì bị triệt. Vì vậy nước ở phương Linh Thần được gọi là Chính Thủy, nghĩa là nước đúng vận, còn nước ở phương Chính Thần bị gọi là Linh Thủy, nghĩa là nước lỡ vận.
Cần nhấn mạnh rằng nước ở đây là nước thật ngoài cảnh quan: sông, biển, đầm, hồ, dòng chảy quanh khu đất. Đây không phải bể cá cảnh đặt thêm trong nhà, cũng không phải hòn non bộ nhỏ. Thẩm Trúc Nhưng nói rõ phương Linh Thần nên nhìn thấy sông, biển, đầm, hà, tức những dạng nước có lưu lượng và dòng chảy thật. Việc đặt một chậu nước nhỏ trong nhà không tạo ra Linh Thủy theo nghĩa này, và cũng không thay thế được hình thế của khu đất.
Bảng Chính Thần và Linh Thần của chín vận
Chính Thần và Linh Thần đổi theo từng vận. Cung đối xứng được tính bằng cách cộng hai phương vị lại thành 10, tức đối cung trong bát quái. Bảng dưới đây tóm tắt phương đương vận và phương đối xứng của chín vận.
| Vận | Chính Thần (phương đương vận) | Linh Thần (phương đối xứng) |
|---|---|---|
| 1 | Bắc (Khảm) | Nam (Ly) |
| 2 | Tây Nam (Khôn) | Đông Bắc (Cấn) |
| 3 | Đông (Chấn) | Tây (Đoài) |
| 4 | Đông Nam (Tốn) | Tây Bắc (Càn) |
| 5 | Trung cung | Trung cung |
| 6 | Tây Bắc (Càn) | Đông Nam (Tốn) |
| 7 | Tây (Đoài) | Đông (Chấn) |
| 8 | Đông Bắc (Cấn) | Tây Nam (Khôn) |
| 9 | Nam (Ly) | Bắc (Khảm) |
Vận 5 là trường hợp đặc biệt vì sao số 5 nhập trung cung, không có phương đối xứng theo nghĩa thông thường, nên nhiều sách không lập bảng cho vận này mà xử lý riêng. Trong Trạch vận tân án, Thẩm Trúc Nhưng ghi rõ: vận 7 lấy Tây làm Chính Thần, do đó nên mở cửa tại Tây; lấy Đông làm Linh Thần, nên trông ra sông biển đầm hồ. Bảng trên khớp với ghi chép ấy.
Thành Môn là gì và vì sao phải có Thành Môn?
Theo lý khí phong thủy, Thành Môn được hiểu là chỗ mà khí mạch từ môi trường bên ngoài theo đó được dẫn vào bên trong một khu vực, khu vực ấy có thể là huyệt mộ, trạch địa hay công trình. Thành Môn như yết hầu của một cơ thể sống, vì nơi đây quyết định sự lưu thông và sinh khí. Khi hướng chính của ngôi nhà không thuận theo vận, người ta tìm một cung khác để làm cửa phụ hoặc lối dẫn khí, và cung ấy gọi là Thành Môn.
Thành Môn được phân thành Thành Môn chính và Thành Môn phụ. Thành Môn chính là nơi tương hợp cao nhất về lý khí và hình thế, tác dụng mạnh nhất. Thành Môn phụ có vai trò hỗ trợ, lực yếu hơn nhưng vẫn thu nạp được sinh khí. Có cách luận kể thêm một dạng thứ ba là Thành Môn ngầm, tức dạng không thể hiện bằng cửa hay lối đi nhìn thấy được. Như vậy ngay ở số lượng và tên gọi các dạng Thành Môn, các nguồn cũng đã không hoàn toàn thống nhất.
Điều kiện để một cung được dùng làm Thành Môn
Khi xét vị trí chính môn của dương trạch, nếu hai cung hai bên cùng nguyên long với hướng chính môn tạo nên một tổ hợp số Hà Đồ như 1-6, 2-7, 3-8, 4-9 thì cung đó được xem là Thành Môn chính. Ngược lại, những cung không tạo được tổ hợp này được gọi là Thành Môn phụ. Điều kiện thứ hai là vận tinh tại cung ấy phải khả dụng, nghĩa là phải rơi vào trường hợp thuận phi phù hợp chứ không phải bất kỳ cung nào cũng dùng được.
Có ví dụ cụ thể cho vận 1 với Tốn sơn Càn hướng: Khảm cung là nơi có thể làm Thành Môn, nhưng vận tinh tại Khảm là Lục Bạch không phải đương lệnh chi tinh, nên cục này không dùng được Thành Môn quyết, áp dụng sẽ dẫn đến bại vong. Khi bước sang vận 2, Thất tinh đến Khảm; Thất thiên nguyên nhập trung, là âm tinh nên phi nghịch, khiến Nhị Hắc đến Khảm; lúc bấy giờ Thành Môn mới dùng được. Ví dụ này cho thấy cùng một cung, cùng một hướng nhà, nhưng qua vận khác thì kết luận đảo ngược.
Các phái Huyền Không định Thành Môn khác nhau thế nào?
Đây là chỗ cần nói rõ rằng không có một cách định Thành Môn duy nhất được mọi phái chấp nhận. Có cách luận theo hướng hai cung hai bên cùng nguyên long với hướng chính môn, rồi lọc tiếp bằng tổ hợp Hà Đồ. Một số phái khác chỉ nhận hai cung kề hướng, tức hai cung nằm sát bên trái và bên phải của hướng chính, và không mở rộng ra toàn bàn. Lại có phái xét Thành Môn theo quan hệ giữa vận tinh và nguyên long của cung, độc lập với vị trí kề hướng.
Sự khác biệt này dẫn tới kết quả thực hành khác nhau: cùng một ngôi nhà, hai thầy theo hai phái có thể chỉ ra hai cung Thành Môn khác nhau, và do đó đề xuất hai vị trí mở cửa phụ khác nhau. Người đọc nên biết rằng đây là bất đồng có thật trong truyền thống, không phải một bên đúng một bên sai. Bài này trình bày theo cách xét hai cung hai bên cùng nguyên long rồi lọc bằng tổ hợp Hà Đồ, và ghi nhận rằng cách chỉ nhận hai cung kề hướng cũng tồn tại song song.
Thành Môn cứu một ngôi nhà thượng sơn hạ thủy thế nào?
Thượng sơn hạ thủy là cục mà hướng tinh và sơn tinh đều rơi vào thế bất lợi: sơn tinh không tới được chỗ có núi hay khối cao, hướng tinh không tới được chỗ có nước. Kết quả là nhà vừa mất đinh vừa mất tài theo cách nói quy ước của phái Huyền Không. Khi ấy Thành Môn được dùng như lối thoát: thay vì nạp khí qua hướng chính vốn đã hỏng, người ta tìm một cung khác có vận tinh khả dụng để làm cửa hoặc lối dẫn khí.
Tuy nhiên cần nói ngay rằng Thành Môn không phải phép chữa vạn năng. Nếu cung định dùng làm Thành Môn không có đương lệnh chi tinh thì áp dụng Thành Môn quyết sẽ dẫn đến bại vong, tức còn tệ hơn để nguyên. Nói cách khác, Thành Môn chỉ cứu được khi hội đủ điều kiện về nguyên long, về tổ hợp Hà Đồ và về vận tinh. Không có điều kiện thì không nên mở cửa theo Thành Môn.
Về hình thế, Thành Môn cần có lối đi thật, dòng người hoặc dòng khí thật chạy qua, chứ không phải một ô cửa vẽ trên bản vẽ. Đây là điểm được nhấn mạnh: Thành Môn là nơi khí mạch thực sự đi vào, nên nếu không có lối đi thật thì cung ấy không hành chức năng Thành Môn dù tính toán có đẹp đến đâu.
Nước và cửa ở đây là nước thật, cửa thật
Một hiểu lầm phổ biến là biến các khái niệm này thành đồ trang trí. Nước trong Linh Thủy là sông, biển, đầm, hồ, tức dạng nước có lưu lượng và dòng chảy, không phải bể cá đặt trong phòng khách. Cửa trong Chính Thần là cửa nạp khí, tức lối đi thật mà người và khí đi qua, không phải một ô cửa sổ nhỏ luôn đóng. Khi Thẩm Trúc Nhưng viết ở phương Chính Thần nên mở cửa nạp khí, ông nói về cửa dùng để khí vào, chứ không nói về việc treo thêm vật gì.
Điều này cũng đúng với Thành Môn. Thành Môn nói về lối đi chính dẫn vào trung tâm ngôi nhà hoặc khu đất, tức một lối thật. Nếu nhà không có lối đi ở cung ấy thì cung ấy không thể làm Thành Môn, bất kể tính toán.
Những điểm các nguồn không thống nhất
Ngoài bất đồng về cách định Thành Môn đã nêu, còn có bất đồng về số dạng Thành Môn: có cách luận nói hai dạng là chính và phụ, còn cách luận khác nói ba dạng là chính, phụ và ngầm. Về vận 5, các sách cũng xử lý khác nhau: có sách lập bảng riêng, có sách gộp vào trung cung và không gán phương đối xứng. Về mức độ tác dụng của Thành Môn phụ, có cách luận cho rằng tuy lực yếu hơn Thành Môn chính nhưng nó vẫn có khả năng thu nạp sinh khí; trái lại, cách luận khác nhấn mạnh hơn, cho rằng Thành Môn phụ đóng vai trò quan trọng khi hướng chính không thực sự vượng khí.
Người đọc nên tiếp cận các bảng và quy tắc trên như một hệ quy ước có nội logic riêng, không phải như một công thức cho ra kết quả cố định cho mọi ngôi nhà. Việc vận dụng còn phụ thuộc vào tinh bàn cụ thể, hình thế thật của khu đất, và thời điểm xem xét, nên kết luận cát hung chỉ nên xem là tham khảo.
