Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Hoa (còn gọi Hán): nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Chia sẻ:
Dân tộc Hoa (còn gọi Hán): nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
TL;DR: Dân tộc Hoa (tên gọi khác: Khách, Hán, Tàu) là một trong 54 dân tộc Việt Nam, có 749.466 người theo Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 1/4/2019. Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Hán, ngữ hệ Hán - Tạng. Người Hoa cư trú tập trung ở các đô thị và vùng đồng bằng Nam Bộ, Trung Bộ, có hệ thống thờ cúng tổ tiên, dòng họ và các vị thần phù hộ gắn với chùa miếu, hội quán. Lễ hội tiêu biểu gồm Tết Nguyên đán, Tết Nguyên tiêu và múa lân - sư tử - rồng.

Dân tộc Hoa là ai và tên gọi chính thức được quy định thế nào?

Dân tộc Hoa là một trong 54 dân tộc được công nhận tại Việt Nam. Theo Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam ban hành kèm Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 2/3/1979, dân tộc này có tên chính thức là Hoa, với tên gọi khác là Khách, Tàu, Hán. Trong nhiều văn bản và tài liệu, cụm "Hoa (Hán)" được dùng để chỉ cùng một dân tộc.

Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 1/4/2019 do Ủy ban Dân tộc công bố, dân tộc Hoa có 749.466 người. Trước đó, Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 ghi nhận 823.071 người. Hai con số này không mâu thuẫn về bản chất dân tộc, mà phản ánh hai thời điểm điều tra khác nhau cùng các phương pháp thu thập số liệu khác nhau.

Cần phân biệt rõ: dân tộc Hoa là một dân tộc trong danh mục 54 dân tộc. Các nhóm như Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Triều Châu, Phúc Kiến, Sang Phang, Xìa Phống, Thoòng Nhằn, Minh Hương, Hẹ được ghi nhận là nhóm địa phương, không phải các dân tộc riêng.

Các nhóm địa phương của dân tộc Hoa

Nhóm địa phươngGhi nhận trong nguồn
Quảng Đông, Quảng Tây, Hải NamNhóm địa phương theo nguồn Ủy ban Dân tộc
Triều Châu, Phúc KiếnNhóm địa phương theo nguồn Ủy ban Dân tộc
Sang Phang, Xìa Phống, Thoòng NhằnNhóm địa phương theo nguồn Ủy ban Dân tộc
Minh Hương, HẹNhóm địa phương theo nguồn Ủy ban Dân tộc

Cổng thông tin Chính phủ cũng liệt kê dân tộc Hoa với tên gọi khác là Khách, Tàu, Hán, cùng các nhóm nhỏ Triều Châu, Phúc Kiến, Quảng Đông, Quảng Tây, Hải Nam, Xạ Phang, Thoòng Nhằn, Hẹ. Cách trình bày giữa các nguồn chính thức có khác nhau đôi chút về cách viết tên nhóm, nhưng đều thống nhất rằng đây là các nhóm địa phương thuộc dân tộc Hoa.

Người Hoa cư trú ở những đâu?

Người Hoa cư trú ở nhiều tỉnh, thành phố, trong đó tập trung hơn ở các đô thị và vùng đồng bằng. Cổng thông tin Chính phủ liệt kê địa bàn cư trú gồm Kiên Giang, Hải Phòng, Vĩnh Long, Trà Vinh, Quảng Ninh, Đồng Nai, Hậu Giang, Minh Hải, thành phố Hồ Chí Minh.

Nguồn của Ủy ban Dân tộc mô tả đặc điểm cư trú theo hai khu vực. Ở nông thôn, những người làm nghề nông thường sống thành thôn xóm, làng thường ở ven chân núi, trong cánh đồng, trải dài trên bờ biển, gần nguồn nước và giao thông thuận tiện. Trong làng, nhà ở bố trí sát nhau theo dòng họ. Ở thành thị, người Hoa thường sống tập trung trong các khu phố riêng.

Bài viết của Nhân Dân về cộng đồng các dân tộc Việt Nam ghi nhận một số dân tộc như Khmer, Chăm, Hoa sinh sống tập trung ở vùng đồng bằng và các đô thị Trung Bộ và Nam Bộ. Đây là đặc điểm cư trú khác với phần lớn các dân tộc thiểu số còn lại, vốn sinh sống chủ yếu ở vùng miền núi.

Tiếng nói của người Hoa thuộc nhóm ngôn ngữ nào?

Tiếng nói của người Hoa thuộc nhóm ngôn ngữ Hán, ngữ hệ Hán - Tạng. Đây là thông tin được cả nguồn Ủy ban Dân tộc và nguồn dantocmiennui ghi nhận thống nhất.

Cần lưu ý một điểm về phạm vi: nhóm ngôn ngữ Hán là một nhóm ngôn ngữ, không đồng nghĩa với việc mọi người Hoa ở Việt Nam nói cùng một thứ tiếng giống hệt nhau. Chính vì có nhiều nhóm địa phương khác nhau như Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hẹ, nên trong sinh hoạt cộng đồng tồn tại nhiều biến thể tiếng nói. Các nguồn tham khảo được cung cấp cho bài này chỉ xác nhận nhóm ngôn ngữ, không đi sâu vào việc phân loại từng biến thể theo nhóm địa phương.

Về chữ viết, nguồn Ủy ban Dân tộc nêu rõ chữ Hán được dạy và học trong các trường phổ thông, và việc học chữ Hoa hiện nay đang phổ biến rộng rãi trong cư dân người Hoa ở các địa phương.

Lịch sử di cư của người Hoa đến Việt Nam diễn ra thế nào?

Theo nguồn Ủy ban Dân tộc, người Hoa di cư đến Việt Nam vào những thời điểm khác nhau từ thế kỷ XVI, và sau này vào cuối thời Minh, đầu thời Thanh, kéo dài cho đến nửa đầu thế kỷ XX. Đây là quá trình di cư kéo dài nhiều thế kỷ, không phải một đợt duy nhất.

Cách mô tả này cho thấy cộng đồng người Hoa ở Việt Nam hình thành từ nhiều làn sóng khác nhau, với thành phần nhóm địa phương đa dạng. Sự đa dạng về nhóm địa phương, được phản ánh qua các tên gọi như Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hẹ, Minh Hương, phần nào gắn với bối cảnh xuất phát khác nhau của từng nhóm.

Người Hoa sinh sống bằng những nghề gì?

Ở vùng nông thôn, người Hoa chủ yếu sống bằng nghề nông, coi lúa nước là đối tượng canh tác chính. Ở các thành phố, thị xã, thị trấn, họ làm nghề dịch vụ, buôn bán. Tiểu thủ công nghiệp khá phát triển, ví dụ nghề gốm ở Quảng Ninh, Sông Bé, Đồng Nai; làm giấy súc, làm nhang ở thành phố Hồ Chí Minh. Một bộ phận người Hoa cư trú ở ven biển sống chủ yếu bằng nghề làm muối và đánh cá.

Nguồn Ủy ban Dân tộc nhấn mạnh một đặc điểm trong hoạt động sản xuất kinh doanh: người Hoa luôn coi trọng chữ "tín". Đây là cách nguồn tài liệu mô tả đặc điểm kinh doanh của cộng đồng, không phải một đánh giá xếp hạng giữa các dân tộc.

Văn hóa ẩm thực và trang phục

Về ăn uống, lương thực chính là gạo, nhưng trong bữa ăn thường có các loại như mì sào, hủ tiếu. Ở các gia đình bình dân, buổi sáng điểm tâm bằng cháo trắng với trứng vịt muối, còn những nhà khá giả hơn là hủ tiếu, bánh bao, xíu mại. Người Hoa được nguồn tài liệu ghi nhận có kỹ thuật nấu ăn giỏi, thích các món ăn xào mỡ với gia vị.

Thức uống của người Hoa ngoài tác dụng giải khát còn được xem là loại thuốc mát, bồi dưỡng "lục phủ, ngũ tạng". Các loại trà sâm, hoa cúc là những thứ thông dụng trong mọi gia đình. Trong dịp hội hè, lễ, tết, nam giới cũng quen dùng rượu.

Về trang phục, nguồn Ủy ban Dân tộc ghi nhận những trang phục gọi là truyền thống của người Hoa hiện chỉ còn thấy ở một số người có tuổi hoặc trong các nghi lễ cưới xin, tang ma. Phụ nữ thường mặc áo cổ viền cao, cài khuy một bên, xẻ tà cao, hoặc áo sườn xám may dài, ôm ngang hông, xẻ tà dưới phần đùi. Đàn ông mặc áo màu đen hoặc xanh đậm, cài khuy vải một bên, vai liền cổ đứng, xẻ tà, hoặc kiểu áo tứ thân xẻ giữa, cổ đứng, vai liền, có túi. Phụ nữ thích dùng đồ trang sức như vòng tay bằng đồng, vàng, đá, ngọc, bông tai, dây chuyền. Đàn ông thích bịt răng vàng và xem đó như một lối trang sức.

Nhà ở và quan hệ xã hội truyền thống có gì đáng chú ý?

Nhà cửa thường có ba loại: nhà ba gian hai chái, nhà chữ Môn và chữ Khẩu. Nhà thường xây bằng đá, gạch mộc hoặc trình đất, lợp ngói máng hoặc lá quế, lá tre, phên lứa. Điểm nổi bật trong nhà ở là các bàn thờ tổ tiên, dòng họ, thờ Phật và các vị thần, cùng các câu đối, liễn, các giấy hồng chữ Hán với nội dung cầu phúc, cầu lợi, cầu bình yên.

Về quan hệ xã hội, nguồn Ủy ban Dân tộc mô tả xã hội phân hóa giai cấp sâu sắc và mang tính phụ quyền cao. Mối quan hệ với những người cùng họ được coi trọng. Mỗi dòng họ có một từ đường để thờ cúng. Hàng năm vào một ngày nhất định, những người cùng họ tụ tập tại từ đường để làm lễ giỗ tộc họ.

Các hoạt động kinh doanh, sản xuất thường có hội nghề nghiệp tương ứng. Những hội này đều có một vị tổ và một ngày giỗ tổ trong năm.

Về hôn nhân, gia đình được xây dựng theo chế độ một vợ một chồng khá bền vững và mang tính phụ hệ. Người Hoa thường dựng vợ gả chồng cho con trong cùng một nhóm địa phương. Trưởng họ, ông mối, các chức dịch đóng vai trò khá quan trọng trong hôn nhân. Nguồn tài liệu cũng ghi nhận hiện nay phụ nữ xây dựng gia đình khá muộn, tuổi cưới trung bình là 28, 30, và số con ít nhất, trung bình một phụ nữ sinh 2 hoặc 3 con.

Người Hoa thờ cúng những gì?

Nổi bật trong các tín ngưỡng dân gian của người Hoa là thờ cúng tổ tiên, gia tộc, dòng họ; thờ cúng các vị thần phù hộ như thần bếp, thổ địa, thần tài; và một số vị thánh và bồ tát như Quan Công, bà Thiên Hậu, ông Bổn, Nam Hải Quan Âm.

Hệ thống chùa miếu khá phát triển. Chùa miếu của người Hoa thường gắn liền với các hội quán, trường học. Đó cũng là nơi sinh hoạt văn hóa cộng đồng, nơi diễn ra các hội lễ. Cách tổ chức này cho thấy chùa miếu không chỉ là nơi thờ tự mà còn là trung tâm sinh hoạt tập thể của cộng đồng.

Bài viết mô tả các thực hành tín ngưỡng này như một phần văn hóa của cộng đồng. Việc tìm hiểu các thực hành đó giúp nhận diện hệ thống thờ tự của người Hoa, không nhằm khẳng định hay phủ định tính linh nghiệm của bất kỳ thực hành nào.

Các lễ tết và lễ hội chính của người Hoa gồm những gì?

Trong một năm, người Hoa có nhiều ngày lễ tết: Nguyên đán, Nguyên tiêu, Thanh minh, Đoan ngọ, Trung nguyên, Trung thu.

Tết Nguyên đán diễn ra vào thời điểm chuyển từ năm cũ sang năm mới theo âm lịch và kéo dài tới ngày rằm tháng giêng, tức Tết Nguyên tiêu. Lễ Nguyên tiêu được nguồn Ủy ban Dân tộc mô tả là đặc trưng lễ tết của người Hoa, với mọi hoạt động tập trung nhất của tín ngưỡng và văn hóa truyền thống đều được biểu hiện trong dịp này.

Múa lân - sư tử - rồng

Múa lân - sư tử - rồng là hình thức sinh hoạt văn nghệ truyền thống của người Hoa, thường tổ chức từ ngày 23 tháng chạp, tức ngày ông Táo lên trời, đến ngày 15 tháng giêng, tức Tết Nguyên tiêu, tại các chùa. Người Hoa chuẩn bị kỹ càng trang phục trước khi múa lân. Múa lân, sư tử, rồng cũng là những loại hình nghệ thuật mang tính quần chúng sâu rộng, được trình diễn hàng năm vào những ngày lễ lớn và ngày lễ tết.

Các loại hình văn nghệ khác

Sinh hoạt văn hóa truyền thống của người Hoa có nhiều thể loại như hát, múa, hài kịch, với nhiều loại nhạc cụ: tiêu, sáo, các loại đàn như tỳ bà, nhị, nguyệt, chập choã. Hát sơn ca (sán cố) là hình thức được nhiều người ưa chuộng, nhất là tầng lớp thanh niên. Tổ chức văn nghệ dân gian truyền thống mang tính nghiệp dư đã có từ lâu là các nhạc xã.

Một số điểm cần lưu ý khi tìm hiểu về dân tộc Hoa

Thứ nhất, về số liệu dân số, các nguồn khác nhau đưa ra con số ở các thời điểm khác nhau. Con số 823.071 người theo Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009, còn con số 749.466 người theo Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 1/4/2019. Người đọc nên ghi rõ thời điểm khi trích dẫn để tránh nhầm lẫn.

Thứ hai, về tên gọi, các nguồn chính thức đều dùng tên dân tộc là Hoa, với tên gọi khác là Khách, Hán, Tàu. Trong văn viết hiện nay, tên chính thức Hoa được dùng phổ biến. Các tên gọi khác có thể xuất hiện trong tài liệu cũ hoặc trong một số ngữ cảnh lịch sử.

Thứ ba, về phạm vi mô tả, các đặc điểm văn hóa như trang phục truyền thống, kiến trúc nhà ở, tập quán hôn nhân được nguồn tài liệu ghi nhận chung cho người Hoa, nhưng mức độ hiện diện của từng đặc điểm có thể khác nhau giữa các địa phương và giữa các nhóm địa phương. Nguồn Ủy ban Dân tộc cũng lưu ý rằng trang phục gọi là truyền thống hiện chỉ còn thấy ở một số người có tuổi hoặc trong các nghi lễ cưới xin, tang ma.

Thứ tư, về bối cảnh chung, bài viết của Nhân Dân về cộng đồng các dân tộc Việt Nam nêu rằng một số dân tộc như Khmer, Chăm, Hoa sinh sống tập trung ở vùng đồng bằng và các đô thị Trung Bộ và Nam Bộ. Đây là thông tin giúp đặt đặc điểm cư trú của người Hoa trong bức tranh phân bố chung của các dân tộc Việt Nam.

Câu hỏi thường gặp

Dân tộc Hoa còn có tên gọi khác là gì và dân số hiện nay bao nhiêu?

Dân tộc Hoa còn có tên gọi khác là Khách, Hán, Tàu. Theo số liệu Điều tra 53 dân tộc thiểu số ngày 1/4/2019, dân tộc Hoa có 749.466 người. Trước đó, Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2009 ghi nhận 823.071 người. Tên dân tộc chính thức là Hoa, theo Danh mục các thành phần dân tộc Việt Nam kèm Quyết định số 121-TCTK/PPCĐ ngày 2/3/1979.

Tiếng nói của người Hoa thuộc nhóm ngôn ngữ nào?

Tiếng nói của người Hoa thuộc nhóm ngôn ngữ Hán, ngữ hệ Hán - Tạng. Do người Hoa có nhiều nhóm địa phương như Quảng Đông, Triều Châu, Phúc Kiến, Hẹ, nên trong sinh hoạt cộng đồng tồn tại nhiều biến thể tiếng nói khác nhau. Chữ Hán được dạy và học trong các trường phổ thông, và việc học chữ Hoa hiện nay đang phổ biến rộng rãi trong cư dân người Hoa ở các địa phương.

Người Hoa thờ cúng những vị thần nào và lễ hội chính là gì?

Người Hoa thờ cúng tổ tiên, gia tộc, dòng họ; thờ các vị thần phù hộ như thần bếp, thổ địa, thần tài; và một số vị thánh, bồ tát như Quan Công, bà Thiên Hậu, ông Bổn, Nam Hải Quan Âm. Hệ thống chùa miếu khá phát triển, thường gắn liền với hội quán và trường học. Lễ tết chính gồm Nguyên đán, Nguyên tiêu, Thanh minh, Đoan ngọ, Trung nguyên, Trung thu, trong đó Tết Nguyên tiêu là dịp đặc trưng. Múa lân - sư tử - rồng thường được tổ chức từ ngày 23 tháng chạp đến ngày 15 tháng giêng.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Ủy ban Dân tộc (cema.gov.vn)
  2. Cổng thông tin Chính phủ (chinhphu.vn)
  3. Dân tộc miền núi - Báo Tin tức (dantocmiennui.baotintuc.vn)
  4. Báo Nhân Dân - Cộng đồng các dân tộc Việt Nam

Nội dung này có giúp được bạn không?

#dântộcHoa#ngườiHoa#54dântộcViệtNam#vănhóangườiHoa#TếtNguyêntiêu#múalânsưtửrồng