Tới nội dung

Tri thức / Đông phương

Bát Tự

Điều hậu trong Bát Tự: sinh mùa đông, mùa hạ đọc ra sao theo Cùng Thông Bảo Giám?

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.
Điều hậu trong Bát Tự: sinh mùa đông, mùa hạ đọc ra sao theo Cùng Thông Bảo Giám?

TL;DR: Điều hậu là nguyên lý điều hòa nóng lạnh trong lá số Bát Tự: lá số sinh mùa đông quá lạnh được coi là cần Hỏa sưởi, lá số mùa hạ quá nóng cần Thủy nhuận. Cùng Thông Bảo Giám bàn từng can theo từng tháng, ví dụ Đinh Hỏa ba tháng đông "chuyên dùng Canh, Giáp"; Trích Thiên Tủy đặt nguyên lý chung là không được lệch quá. Đây là quy ước của môn, chưa được kiểm chứng, và phải xét cả tứ trụ chứ không chỉ mùa sinh.

Điều hậu trong Bát Tự là gì?

Điều hậu (調候) là nguyên lý điều hòa nóng lạnh trong lá số Bát Tự: ngoài việc xét ngũ hành mạnh yếu, người luận còn xét lá số có lệch quá về phía lạnh hay nóng không, và cần can chi nào để quân bình. Đây là một trục đọc của Bát Tự, bên cạnh vượng suy, cách cục, thông quan.

Điều hậu là quy ước của môn, có gốc trong các sách mệnh lý Trung Hoa như Cùng Thông Bảo Giám và Trích Thiên Tủy. Nó chưa được kiểm chứng như một quy luật khoa học.

Vì sao mùa đông và mùa hạ là hai cực được bàn trước?

Mùa đông và mùa hạ là hai đầu rõ nhất của trục nóng lạnh. Trong Bát Tự, tháng sinh xác định theo tiết khí, không theo tháng âm lịch thường: người sinh tháng Hợi, Tý, Sửu thuộc mùa đông, tháng Tỵ, Ngọ, Mùi thuộc mùa hạ. Ranh giới các tháng ấy là các tiết Lập Đông, Lập Hạ và các tiết giữa, tính được và kiểm chéo được.

Một lá số quá lạnh được coi là cần sưởi, một lá số quá nóng được coi là cần làm mát. Hai cực này cho thấy rõ nhất ý của điều hậu.

Cùng Thông Bảo Giám nói gì về mùa đông?

Cùng Thông Bảo Giám (窮通寶鑑), truyền bản quy cho Dư Xuân Đài biên soạn, bàn từng thiên can theo từng tháng sinh. Với mùa đông, sách nhấn mạnh cần Hỏa sưởi ấm, và tùy can ngày mà cách dùng khác nhau.

Bàn về Đinh Hỏa ba tháng đông, sách viết: "三冬丁火微寒,耑用庚甲" (Đinh Hỏa ba tháng đông hơi lạnh, chuyên dùng Canh, Giáp)[1]: Đinh Hỏa mùa đông yếu, cần Giáp Mộc làm củi và Canh Kim bổ Giáp để dẫn lửa. Sách cũng có câu "甲庚两透,科甲分明" (Giáp, Canh cùng lộ thì khoa bảng rõ ràng)[1], lối nói cổ dùng hình ảnh khoa bảng để chỉ một cấu trúc can chi được coi là thuận.

Mùa hạ và cuối hạ thì sách dạy thế nào?

Với mùa hạ, trọng tâm là làm dịu cái nóng: sách thường nhắc dùng Thủy để nhuận và Kim để sinh Thủy. Khi khí Hỏa đã thoái, cách dùng đổi theo: bàn về Đinh Hỏa tháng Bảy, sách viết "七月丁火,退气柔弱,端用甲木" (Đinh Hỏa tháng Bảy khí thoái, mềm yếu, chuyên dùng Giáp Mộc)[5].

Điều hậu không chỉ dựa vào tháng sinh. Một lá số sinh mùa hạ mà trong tứ trụ nhiều Thủy thì không cần làm mát nhiều; lá số sinh mùa đông mà nhiều Hỏa thì không cần sưởi nhiều.

Trích Thiên Tủy đặt nền cho điều hậu thế nào?

Trích Thiên Tủy viết: "天道有寒暖,发育万物,人道行之,不可过也" (Đạo trời có lạnh ấm để nuôi muôn vật; đạo người theo đó, không được quá)[3]. Ý chính là không được lệch quá, chứ không phải nóng là xấu hay lạnh là tốt.

Nguyên chú giải thích: "阴支为寒,阳支为暖;西北为寒,东南为暖;金水为寒,木火为暖" (chi âm là lạnh, chi dương là ấm; tây bắc lạnh, đông nam ấm; Kim Thủy lạnh, Mộc Hỏa ấm), và khí lạnh gặp ấm thì phát, khí ấm gặp lạnh thì thành[4]. Nhậm Thiết Tiều, khi chú giải sách, viết "命贵中和,偏枯终于有损" (mệnh quý ở trung hòa, lệch khô rốt cuộc có tổn)[2]. Như vậy, điều hậu là một phần của nguyên lý trung hòa.

Làm sao biết một lá số thiên lạnh hay thiên nóng?

Theo nguyên chú Trích Thiên Tủy và cách đọc của Cùng Thông Bảo Giám, việc đánh giá dựa trên tổng hợp can chi:

Yếu tốXu hướng lạnhXu hướng nóng
Can ngàyNhâm, Quý (Thủy)Bính, Đinh (Hỏa)
Chi thángHợi, Tý, SửuTỵ, Ngọ, Mùi
Ngũ hành trong tứ trụNhiều Kim, ThủyNhiều Mộc, Hỏa
Phương vị của chiTây bắcĐông nam
Can chi hỗ trợKhông có Hỏa sưởiKhông có Thủy nhuận

Bảng này là khung tham chiếu, không phải công thức tính điểm; các sách đều đòi xem cả can tàng trong chi mới kết luận.

Các phái có thống nhất về điều hậu không?

Không hoàn toàn. Một số người luận đặt điều hậu lên hàng đầu, cho rằng lá số quá lệch nóng lạnh thì các yếu tố khác khó phát huy; số khác coi điều hậu chỉ là một phần, phải kết hợp với cách cục và vượng suy. Cùng Thông Bảo Giám đi vào từng can, từng tháng; Trích Thiên Tủy nói nguyên lý trung hòa chung.

Gợi ý của Nhật Nguyệt: đọc điều hậu thế nào cho hợp lý?

Khi tự đọc lá số, hãy làm theo thứ tự: xác định tháng sinh theo tiết khí, đếm Kim Thủy và Mộc Hỏa trong tứ trụ, rồi mới đối chiếu với đoạn Cùng Thông Bảo Giám bàn đúng can ngày và tháng sinh của mình.

Điều hậu chỉ mô tả cấu trúc can chi theo quy ước của môn. Đừng dùng nó để quyết định việc học, việc làm hay sức khỏe.

Trong bài này8 mục

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Sinh tháng Tý có nghĩa là lá số luôn lạnh?

Không. Tháng Tý là một yếu tố khởi đầu, nhưng nếu tứ trụ có nhiều Bính Đinh hoặc đất Hỏa mạnh thì lá số vẫn có thể nóng. Cần xem toàn bộ Can Chi mới kết luận được.

Điều hậu có phải là yếu tố quan trọng nhất trong Bát Tự?

Tùy phái. Một số sách như Cùng Thông Bảo Giám đặt nặng điều hậu, trong khi Trích Thiên Tủy nhấn mạnh trung hòa tổng thể. Thực hành thường kết hợp điều hậu với cách cục và vượng suy, không có yếu tố nào đứng một mình.

Làm sao biết lá số của mình cần sưởi hay cần làm mát?

Cần xem Can ngày, Chi tháng, và tổng thể ngũ hành trong tứ trụ. Nếu nhiều Kim Thủy, thiếu Hỏa thì thiên lạnh; nếu nhiều Mộc Hỏa, thiếu Thủy thì thiên nóng. Đây là đánh giá tương đối, không có ngưỡng tuyệt đối.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abKhuyết danh (truyền bản quy cho Dư Xuân Đài biên) (không rõ năm). Cùng thông bảo giám (窮通寶鑑), Đinh Hỏa ba tháng đông三冬丁火微寒,耑用庚甲。
  2. ↑Nhậm Thiết Tiều (chú) và cộng sự (không rõ năm). Trích Thiên Tủy xiển vi (滴天髓闡微), Lời của Nhậm Thiết Tiều由此观之,命贵中和,偏枯终于有损;理求平正,奇异不足为凭。
  3. ↑Nhậm Thiết Tiều (chú) và cộng sự (không rõ năm). Trích Thiên Tủy xiển vi (滴天髓闡微), Thiên Hàn noãn (寒暖), chính văn天道有寒暖,发育万物,人道行之,不可过也。
  4. ↑Nhậm Thiết Tiều (chú) và cộng sự (không rõ năm). Trích Thiên Tủy xiển vi (滴天髓闡微), Thiên Hàn noãn (寒暖), nguyên chú阴支为寒,阳支为暖;西北为寒,东南为暖;金水为寒,木火为暖,得气之寒,遇暖而发;得气之暖,逢寒而成。
  5. ↑Khuyết danh (truyền bản quy cho Dư Xuân Đài biên) (không rõ năm). Cùng thông bảo giám (窮通寶鑑), Đinh Hỏa tháng Bảy七月丁火,退气柔弱,端用甲木,金虽乘旺司权,无伤丁之理
#ĐiềuHậu#BátTự#CùngThôngBảoGiám#MùaĐông#MùaHạ#TríchThiênTủy