Tới nội dung

Tri thức / Đông phương

Lịch âm

Tiết Tiểu Tuyết là gì, bắt đầu ngày nào và có tục lệ gì?

Lịch pháp và thiên văn Phép tính lịch pháp.

Tiết Tiểu Tuyết là gì, bắt đầu ngày nào và có tục lệ gì?

TL;DR: Tiết Tiểu Tuyết (小雪) là tiết thứ 20 trong 24 tiết khí, không phải một ngày lễ cố định mà là một khoảng khí hậu bắt đầu khi Mặt Trời tới kinh độ 240 độ, thường vào ngày 22 tháng 11 dương lịch theo giờ Việt Nam (từ 21 tới 23 tháng 11 trong khoảng 1900 tới 2100). Tiểu Tuyết là trung khí của tháng Hợi (tháng 10 âm lịch) nên không đổi tháng trong Bát Tự; sách quẻ khí coi ngày Tiểu Tuyết là lúc dương khí vừa hết rồi bắt đầu sinh lại. Tên gọi "Tiểu Tuyết" chỉ mức độ lạnh và tuyết còn nhẹ, không hẳn nói về lượng tuyết thực tế, và không phải một ngày tốt xấu cố định.

Tiết Tiểu Tuyết là gì và nằm ở đâu trong hệ 24 tiết khí?

Tiết Tiểu Tuyết (小雪) là tiết thứ 20 trong hệ 24 tiết khí của lịch phương Đông, đứng ngay sau Lập Đông và trước Đại Tuyết. Đây không phải một ngày lễ cố định mà là một khoảng khí hậu dài khoảng 15 ngày. Trong cách gọi của sách xưa, mỗi tiết chia làm ba "hậu", mỗi hậu khoảng 5 ngày, và mỗi hậu có một dấu hiệu tự nhiên riêng để người xưa quan sát.

Sách Hiệp kỷ biện phương thư ghi ba hậu của Tiểu Tuyết là: "虹藏不見" (cầu vồng ẩn đi, không còn thấy), "天氣上升地氣下降" (khí trời bốc lên, khí đất hạ xuống), "閉塞而成冬" (trời đất bế tắc mà thành mùa đông)[1]. Ba dấu hiệu này không nhắc tới tuyết, cho thấy tên tiết mô tả trạng thái khí trời chuyển sang đông kín hơn là một hiện tượng thời tiết cụ thể.

Tiết Tiểu Tuyết bắt đầu ngày nào?

Tiểu Tuyết bắt đầu khi Mặt Trời tới kinh độ hoàng đạo 240 độ, thường vào ngày 22 tháng 11 dương lịch theo giờ Việt Nam. Trong khoảng 1900 tới 2100 có năm sớm tới ngày 21 tháng 11 (như 2044, 2060) và năm muộn tới ngày 23 tháng 11 (như 1999, 2003). Ngày dương lịch xê dịch vì độ dài năm không phải số nguyên.

Mốc giao tiết Tiểu Tuyết những năm gần đây, theo giờ Việt Nam:

NămNgày dương lịchGiờ giao tiết
202522/11/20258 giờ 35 phút
202622/11/202614 giờ 22 phút
202722/11/202720 giờ 10 phút
202822/11/20281 giờ 58 phút
202922/11/20297 giờ 47 phút
203022/11/203013 giờ 37 phút

Hiệp kỷ biện phương thư ghi rằng tới Tiểu Tuyết, Mặt Trời vào độ đầu của cung Dần, gọi là "Tích Mộc chi thứ" (析木之次), nên nguyệt tướng của tháng 10 ở Dần[1].

Vì sao gọi là "Tiểu Tuyết" mà không phải "Đại Tuyết"?

Tên "Tiểu Tuyết" chỉ mức độ lạnh và lượng tuyết còn nhẹ, phân biệt với "Đại Tuyết" là tiết sau đó. Sách Mệnh lý tham nguyên giải thích rằng sau Lập Đông có Tiểu Tuyết, Đại Tuyết: khí lạnh bắt đầu ở hạt móc (露), giữa chừng thành sương giá (霜), cuối cùng thành tuyết (雪), và tuyết đi từ nhỏ tới lớn, đều có thứ bậc[3]. Cách giải thích này cho thấy tên tiết phản ánh tiến trình tăng dần của khí lạnh chứ không nói tới lượng tuyết thực tế ở một địa phương cụ thể.

Sách cũng dẫn lời các nhà nho trước: sau Tiểu Tuyết, dương khí mỗi ngày sinh một phần, tích ba mươi ngày được ba mươi phần thì thành một vạch dương, tức là Đông Chí[3]. Đây là cách hiểu theo quẻ khí của Nho gia xưa, không phải một dữ kiện khí tượng đo được.

Tiết Tiểu Tuyết thuộc tháng nào theo can chi?

Tiểu Tuyết là trung khí của tháng 10 âm lịch, tức tháng Hợi. Trong Bát Tự, tháng được tính theo tiết: tháng Hợi đi từ Lập Đông tới trước Đại Tuyết, nên giờ giao Tiểu Tuyết không đổi tháng, người sinh trước hay sau mốc ấy đều thuộc tháng Hợi.

Sách Dịch kinh tồn nghi của Lâm Hy Nguyên, khi giải lời Chu Hy về quẻ Phục, cho rằng tháng 10 tuy ứng quẻ Khôn thuần âm nhưng dương khí không mất hết ngay lúc Lập Đông: từ Sương Giáng dương mỗi ngày mất một phần, tới ngày Tiểu Tuyết mới hết hẳn, rồi sinh lại từ giờ Tý hôm sau, tới Đông Chí đủ ba mươi phần thì thành một hào dương[4]. Đây là cách lý giải theo quẻ khí, không phải quan sát khí tượng đo được.

Sách Trạch vận tân án của Thẩm Trúc Nhưng (Lê Việt Anh biên dịch), khi bàn về ngũ hành theo thời lệnh, xếp Tiểu Tuyết cùng Lập Đông vào "Mạnh đông", lúc hành Thủy đang vượng[5]. Cách xếp này là quy ước của môn phong thủy và mệnh lý, dùng để luận vượng suy của ngũ hành theo mùa, không phải một kết luận khoa học về khí hậu.

Tiết Tiểu Tuyết có tục lệ gì?

Trong Tuế thời quảng ký, tục lệ gắn đích danh với Tiểu Tuyết chỉ có một: sách dẫn Toả toái lục chép tục ở đất Mân (Phúc Kiến): ngày Nhâm đầu tiên sau Lập Đông gọi là "nhập dịch", tới Tiểu Tuyết là "xuất dịch", mưa trong khoảng ấy gọi là "dịch vũ"; không có mưa thì người ta cho là năm sau sẽ hạn.

Ở Việt Nam, Gia lễ giản yếu của Dương Bá Trạc (1932), phần lễ tết, khuyên bỏ những tiết lệ ông cho là "vô ý nghĩa" như Đoan ngũ, Thượng nguyên, Trung nguyên, Trung thu, chỉ giữ tết Nguyên đán, tết Thanh minh và tết cơm mới để làm lễ với tổ tiên[6]. Tiểu Tuyết không có trong số tết được giữ lại ấy.

Tiết Tiểu Tuyết có phải ngày tốt xấu cố định không?

Tiết Tiểu Tuyết không phải một ngày tốt xấu cố định. Các sách chọn ngày như Vạn sự bất cầu nhân của Quảng Luân Nguyện Lan liệt kê sao tốt, sao xấu theo từng tháng và theo địa chi của ngày[7].

Theo Hiệp kỷ biện phương thư, nguyệt kiến (tháng tính theo chuôi sao Bắc Đẩu) xét theo tiết, còn nguyệt tướng (theo vị trí Mặt Trời) xét theo trung khí[1]. Tiểu Tuyết là trung khí nên các ngày trước và sau nó vẫn tra thần sát theo cùng tháng Hợi; thứ đổi ở Tiểu Tuyết là nguyệt tướng, dùng trong phép chọn giờ.

Các môn thuật số dùng Tiểu Tuyết thế nào?

Sách Thuật số Lạc Thư (Kỳ Môn Độn Giáp nguyên thủy) xếp Tiểu Tuyết vào nửa năm tính từ Hạ Chí, và gộp Sương Giáng, Lập Đông, Tiểu Tuyết vào quẻ Càn ở cung số 6[2]. Cách xếp này phục vụ việc lập cục trong Kỳ Môn, không phải một quan điểm về khí hậu hay nông nghiệp.

Sách Sử dụng la bàn của Thanh Thủy (2006) kê một vòng "Nhị thập tứ tiết khí" trong các vòng của la bàn[8]. Đây là quy ước của môn phong thủy, không phải dữ kiện thiên văn độc lập.

Bảng tóm tắt Tiết Tiểu Tuyết

Đặc điểmNội dung
Tên chữ Hán小雪
Vị trí trong 24 tiết khíTiết thứ 20, sau Lập Đông, trước Đại Tuyết
Kinh độ Mặt Trời240 độ
Thời gian bắt đầuThường ngày 22 tháng 11; từ 21 tới 23 tháng 11 trong khoảng 1900 tới 2100 (giờ Việt Nam)
Tháng can chiTrung khí của tháng Hợi (tháng 10 âm lịch), không đổi tháng Bát Tự
Cung hoàng đạo cổMặt Trời vào cung Dần, Tích Mộc chi thứ
Ba hậuHồng tàng bất kiến, thiên khí thượng thăng địa khí hạ giáng, bế tắc nhi thành đông
Ngũ hành vượngThủy
Tục lệ ghi trong sáchTục "dịch vũ" ở đất Mân (Phúc Kiến)
Vai trò trong lễ nghi Việt NamKhông phải ngày lễ cố định

Gợi ý của Nhật Nguyệt

Gợi ý của Nhật Nguyệt: muốn lấy Tiểu Tuyết làm mốc cho việc của mình, hãy dùng đúng giờ giao tiết của năm ấy theo giờ Việt Nam như bảng ở trên. Năm 2028 tiết giao lúc 1 giờ 58 phút sáng ngày 22/11, nên đêm 21/11 năm ấy vẫn thuộc tiết Lập Đông.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Tiết Tiểu Tuyết kéo dài bao nhiêu ngày và kết thúc khi nào?

Tiết Tiểu Tuyết kéo dài khoảng 15 ngày, bắt đầu khi Mặt Trời tới kinh độ 240 độ và kết thúc khi Mặt Trời tới kinh độ 255 độ, tức là khi tiết Đại Tuyết bắt đầu. Theo giờ Việt Nam, Đại Tuyết thường bắt đầu ngày 7 tháng 12 (từ 6 tới 8 tháng 12 trong khoảng 1900 tới 2100), nên Tiểu Tuyết thường kéo dài từ ngày 22 tháng 11 tới hết ngày 6 tháng 12.

Tiết Tiểu Tuyết có phải là ngày lễ ở Việt Nam không?

Tiết Tiểu Tuyết không phải là ngày lễ cố định ở Việt Nam. Gia lễ giản yếu của Dương Bá Trạc (1932) chỉ giữ lại tết Nguyên đán, tết Thanh minh và tết cơm mới để làm lễ với tổ tiên, trong đó không có Tiểu Tuyết. Đây là một mốc khí hậu trong lịch cổ, không phải ngày lễ bắt buộc.

Muốn biết ngày Tiểu Tuyết chính xác của một năm thì tra ở đâu?

Ngày giờ Tiểu Tuyết mỗi năm tính theo lúc Mặt Trời tới kinh độ hoàng đạo 240 độ, rồi đổi sang giờ Việt Nam (UTC+7). Bảng trong bài ghi sẵn các năm 2025 tới 2030; năm khác thì tra lịch thiên văn hoặc lịch có ghi giờ giao tiết theo giờ Việt Nam. Giờ Bắc Kinh nhanh hơn giờ Việt Nam một tiếng, nên năm có giờ giao tiết từ 23 giờ trở đi thì lịch Trung Quốc ghi sang ngày hôm sau, như năm 2044: 23 giờ 11 phút ngày 21/11 theo giờ Việt Nam là ngày 22/11 theo giờ Bắc Kinh.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcDoãn Lộc (Trang thân vương, phụng sắc) và cộng sự (1741). Hiệp kỷ biện phương thư (欽定協紀辨方書, Khâm định, bản Tứ khố toàn thư, 36 quyển), Quyển 12 (Công quy 1), mục Khí hậu và mục Nhật triền quá cung; quyển 29 (Nguyệt biểu 10)小雪 虹藏不見 天氣上升地氣下降 閉塞而成冬
  2. ↑Thuật số Lạc Thư (Kỳ Môn Độn Giáp nguyên thủy), Trang 11, phần hợp 24 tiết khí vào tám quẻ, chia hai nửa năm từ Đông Chí và từ Hạ Chí* Tiết Sương Giáng * Tiết Lập Đông * Tiết Tiểu Tuyết Hợp nhất quẻ CÀN ở cung số 6 - 9
  3. ↑ abViên Thụ San (1915). Mệnh lý tham nguyên (命理探原, Viên Thụ San), Trang 2, phần bàn về tên gọi 24 tiết khí立冬後曰小雪、大雪,寒氣始於露,中於霜,終於雪。霜之前為露,露由白而始寒,霜之後為雪,雪由小至而大,皆有漸也。
  4. ↑Lâm Hy Nguyên (không rõ năm). Dịch kinh tồn nghi (易經存疑, Lâm Hy Nguyên, bản Tứ khố toàn thư, 12 quyển), Trang 14, phần bàn về quẻ Khôn và quẻ Phục trong tháng 10 và tháng 11小雪中陽方盡而為純坤
  5. ↑Thẩm Trúc Nhưng, Trạch vận tân án (Lê Việt Anh biên dịch), Trang 23, phần ngũ hành và ngũ hành sở thuộcVào tiết Lập Đông, Tiểu Tuyết của Mạnh đông, Đại Tuyết, Đông Chí của Trọng Đông, Thủy tỉnh đang Vượng.
  6. ↑Dương Bá Trạc (1932). Gia lễ giản yếu, Trang 2, phần Lễ tếtCác ngày tiết lệ vô ý nghĩa như Đoan-ngũ, thượng-nguyên, trung-nguyên, trung-thu, nên thôi cả, chỉ những ngày tết nguyên đán, tết Thanh-minh (trong tháng ba ngày nào tạnh ráo đi tảo mộ cũng được), tết cơm mới (trong tháng chín ngày nào tùy tiện cũng được) thì nhớ tiết lệ làm lễ với tổ tiên.
  7. ↑Quảng Luân Nguyện Lan. Vạn sự bất cầu nhân: sách dạy xem ngày tốt xấu, Trang 5, phần liệt kê sao tốt xấu theo ngày can chiNGÀY SÚU - Sao tốt: Thiên thanh Thiên phú Ngọc dương Hoàng đạo Lộc khổ
  8. ↑Thanh Thủy. Sử dụng la bàn, Bảng 5-3, thứ tự các vòng của la bànĐệ ngũ tầng Nhị thập tứ tiết khí

Đọc thêm

  • Tuệ Duyên và Mạnh Liên (biên dịch). Phong thủy học (Tuệ Duyên, Mạnh Liên biên dịch), Trang 21, phần bàn về khí và môi trườngPhàm là miệng núi như cái nắp, khói trắng bay lên, mây trôi lững lờ, bốn mùa che phủ, vỏ không nứt mòn, sắc ưới. cỏ cây um tùm, sông suối trong veo, đất thơm. nếu như vậy thì khí tốt lành
  • Vương Thị Nhị Mười (sưu tầm và biên soạn). Phong thủy Địa lý Tả Ao (tập 1 Địa lý chính tông, tập 2 Dã đàm Tả Ao), Trang 40, phần khí vận hànhKhí theo phong (g1ó) mà tán ra. gặp thủy (nước) thì dừng lại. Có nhân làm cho khí tụ lại mà không tán ra. trôi chảy mà dừng tu. Như vậy gọi là phong thủy, lấy đắc thủy (được nước) làm chính yếu, lấy tàng phong (chứa gió) làm thứ yếu.
#TiếtTiểuTuyết#24TiếtKhí#LịchÂm#TiếtKhí#LậpĐông#ĐạiTuyết#ThángHợi#LịchCổPhươngĐông