
TL;DR: Năm 2027 là năm Đinh Mùi (con Dê), nạp âm Thiên Hà Thủy, tính từ Tết ngày 6/2/2027 tới trước Tết ngày 26/1/2028; Bát Tự đổi năm ở Lập Xuân, 8 giờ 42 ngày 4/2/2027. Theo cách xét tuổi dân gian, ở trục con giáp bố mẹ tuổi Hợi, Mão, Ngọ được xem là thuận, tuổi Tý, Sửu, Thìn, Tuất là nghịch; ở trục nạp âm bố mẹ mệnh Kim, Thủy, Mộc được xem là thuận, mệnh Thổ, Hỏa là nghịch. Các trục có thể nói ngược nhau, và đây là quy ước văn hóa, không phải kết luận khoa học về sức khỏe hay vận mệnh.
Năm 2027 là năm gì, nạp âm gì?
Năm 2027 là năm Đinh Mùi: can Đinh, chi Mùi (con Dê). Cặp Bính Ngọ, Đinh Mùi cùng mang nạp âm Thiên Hà Thủy, hành Thủy. Nạp âm là hành gán cho từng cặp can chi trong vòng sáu mươi năm, khác với hành của can (Đinh thuộc Hỏa) và hành của chi (Mùi thuộc Thổ). Sách Tử Vi khảo luận gọi nạp âm của tuổi Đinh Mùi là nước sông trên trời[1].
Theo lịch âm tính theo giờ Việt Nam, năm Đinh Mùi bắt đầu từ Tết ngày 6/2/2027 và kết thúc trước Tết Mậu Thân ngày 26/1/2028. Trẻ sinh trong khoảng ấy là tuổi Mùi theo cách tính tuổi dân gian và theo Tử Vi. Bát Tự lấy mốc Lập Xuân: trụ năm Đinh Mùi tính từ 8 giờ 42 ngày 4/2/2027 tới trước 14 giờ 30 ngày 4/2/2028. Hai mốc lệch nhau, nên trẻ sinh từ 8 giờ 42 ngày 4/2 tới hết ngày 5/2/2027 là tuổi Bính Ngọ theo năm âm nhưng có trụ năm Đinh Mùi; trẻ sinh từ ngày 26/1/2028 tới trước 14 giờ 30 ngày 4/2/2028 là tuổi Mậu Thân theo năm âm nhưng vẫn có trụ năm Đinh Mùi.
Sinh con năm 2027 Đinh Mùi hợp tuổi bố mẹ nào theo can chi?
Cách xét tuổi dân gian so chi năm sinh của con với chi của bố, của mẹ theo bốn bảng: tam hợp và lục hợp được tính là thuận, tứ hành xung và lục hại được tính là nghịch. Với chi Mùi: Mùi cùng nhóm tam hợp với Hợi và Mão, lục hợp với Ngọ, cùng nhóm tứ hành xung với Sửu, Thìn, Tuất, và lục hại với Tý. Bốn chi Dần, Tỵ, Thân, Dậu không thuộc nhóm hợp hay nhóm khắc nào với Mùi. Vì vậy, theo cách xét này, bố mẹ tuổi Hợi, Mão, Ngọ được xem là thuận với con tuổi Mùi; bố mẹ tuổi Tý, Sửu, Thìn, Tuất được xem là nghịch.
Ở mặt thiên can, can Đinh của con hợp với can Nhâm (Đinh Nhâm là một cặp ngũ hợp) và xung với can Quý; với tám can còn lại thì không hợp, không xung.
Ngoài bốn bảng trên, có sách còn xét hình, phá và lục xung: Sửu, Tuất, Mùi là một nhóm tam hình, Tuất phá Mùi, Sửu xung Mùi. Các bảng là những quy ước độc lập, nên một cặp tuổi có thể vừa hợp ở bảng này vừa khắc ở bảng khác.
Bảng dưới đây tóm tắt quan hệ giữa chi Mùi và 12 chi theo bốn bảng dân gian:
| Chi của bố mẹ | Quan hệ với Mùi | Theo cách xét tuổi dân gian |
|---|---|---|
| Hợi | Tam hợp | Thuận |
| Mão | Tam hợp | Thuận |
| Ngọ | Lục hợp | Thuận |
| Tý | Lục hại | Nghịch |
| Sửu | Tứ hành xung | Nghịch |
| Thìn | Tứ hành xung | Nghịch |
| Tuất | Tứ hành xung | Nghịch |
| Dần | Không hợp, không khắc | Trung tính |
| Tỵ | Không hợp, không khắc | Trung tính |
| Thân | Không hợp, không khắc | Trung tính |
| Dậu | Không hợp, không khắc | Trung tính |
| Mùi | Cùng chi | Không tính là hợp hay khắc |
Nạp âm Thiên Hà Thủy hợp với nạp âm nào của bố mẹ?
Ngoài can chi, cách xét tuổi dân gian còn đặt hành nạp âm của con (Thủy) cạnh hành nạp âm của bố, của mẹ. Kim sinh Thủy, nên bố mẹ mệnh Kim (Hải Trung Kim, Kiếm Phong Kim, Bạch Lạp Kim, Sa Trung Kim, Kim Bạc Kim, Thoa Xuyến Kim) là mệnh bố mẹ sinh mệnh con, được tính là thuận. Bố mẹ mệnh Thủy (Giản Hạ Thủy, Tuyền Trung Thủy, Trường Lưu Thủy, Thiên Hà Thủy, Đại Khê Thủy, Đại Hải Thủy) cùng hành với con, gọi là bình hòa, cũng được tính là thuận. Thủy sinh Mộc, nên bố mẹ mệnh Mộc (Đại Lâm Mộc, Dương Liễu Mộc, Tùng Bách Mộc, Bình Địa Mộc, Tang Đố Mộc, Thạch Lựu Mộc) là mệnh con sinh mệnh bố mẹ, cũng được tính là thuận. Thổ khắc Thủy là mệnh bố mẹ khắc mệnh con, Thủy khắc Hỏa là mệnh con khắc mệnh bố mẹ; hai chiều này được tính là nghịch.
Các cách xem tuổi đang lưu hành không thống nhất trục nào nặng hơn: có cách chỉ so hành nạp âm, có cách chỉ so con giáp, có cách xét cả can, chi và nạp âm. Hai trục có thể nói ngược nhau: con Đinh Mùi với mẹ tuổi Giáp Tý (Hải Trung Kim) là lục hại ở trục con giáp, nhưng Kim sinh Thủy ở trục nạp âm.
Vì sao nạp âm Thiên Hà Thủy lại được xem là “nước trên trời”?
Hiệp kỷ biện phương thư (quyển 1, mục nạp âm) chép lời Đào Tông Nghi giải thích tên sáu mươi nạp âm. Về cặp này, Đào Tông Nghi viết: 丙午丁未天河水者丙丁屬火午為火旺之地而納音乃水水自火出非銀漢不能有也故曰天河水也. Nghĩa là: Bính, Đinh thuộc Hỏa, Ngọ là đất Hỏa vượng mà nạp âm lại là Thủy; nước từ lửa mà ra thì chỉ có thể là nước Ngân Hà, nên gọi là Thiên Hà Thủy. Đây là lối giải thích bằng hình tượng của người xưa, không phải mô tả vật lý.
Bố mẹ tuổi nào thì nên cân nhắc thêm?
Theo cách xét tuổi dân gian, bố mẹ tuổi Tý (lục hại với Mùi) và tuổi Sửu, Thìn, Tuất (cùng nhóm tứ hành xung với Mùi) được xem là nghịch ở trục con giáp khi sinh con năm Mùi. Đó chỉ là một trục: cùng một cặp tuổi, trục can và trục nạp âm có thể thuận. Trong thực tế, quan hệ cha mẹ và con cái chịu ảnh hưởng của hoàn cảnh gia đình, cách nuôi dạy, sức khỏe, môi trường sống, những điều nằm ngoài phạm vi của can chi hay nạp âm.
Chưa có nghiên cứu khoa học nào chứng minh mối liên hệ giữa năm sinh can chi và chất lượng mối quan hệ gia đình hay sức khỏe con người. Quan niệm tuổi con “khắc” tuổi bố mẹ là sản phẩm của hệ quy ước văn hóa, chưa ai chứng minh được. Người đọc nên xem đây là thông tin tham khảo văn hóa, không dùng để quyết định việc sinh con hay đánh giá con người.
Có nên chọn năm sinh con theo tuổi hợp không?
Sách Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, ở mục Xem ngày kén giờ, chép rằng trẻ mới sinh kỵ nhất là sinh phải giờ kim xà thiết tỏa; sinh phải giờ ấy thì khó nuôi, phải cúng nhương giải mới nuôi được[2]. Sách chép cả cách bấm giờ ấy theo năm, tháng, ngày, giờ sinh và theo con trai hay con gái[2]. Tục này không phải là chọn giờ sinh, mà là cách người xưa đối phó sau khi trẻ đã ra đời.
Vương Sung đời Đông Hán, trong thiên Biện túy (辨祟) của sách Luận hành, kể lối tin rằng ốm đau, chết chóc, tù tội đều do phạm điều kiêng, vì làm nhà, dời chỗ, cưới gả mà không chọn ngày lành, không tránh năm tháng; rồi ông viết: 如實論之,乃妄言也 (xét cho đúng thì đó là lời nói càn)[3].
Sách Tử Vi khảo luận của Hoàng Thường và Hàm Chương, ở phần bàn việc đem Tử vi vào phân tâm học, cho rằng phương pháp giải đoán của khoa Tử vi phải có một chỗ đứng đáng kể trong trường phái phân tâm học ngày nay; cũng đoạn ấy viết rằng dù tài giỏi đến đâu, người ta cũng không thể sinh ra một đứa con theo ý muốn[1].
Ngày giờ sinh thực tế do sức khỏe của mẹ và con quyết định, theo chỉ định của bác sĩ.
Gợi ý của Nhật Nguyệt
Muốn tự tra, cần năm sinh âm lịch của bố và mẹ; người sinh tháng 1 hay đầu tháng 2 dương lịch nên đối chiếu với ngày Tết của năm ấy. Tiện ích Xem năm sinh con hợp tuổi bố mẹ so từng năm với bố, với mẹ trên ba trục thiên can, địa chi, nạp âm và để riêng từng trục, không cộng điểm. Kết quả là một lớp thông tin văn hóa; sức khỏe của mẹ, điều kiện gia đình và cách nuôi dạy mới là điều quyết định việc sinh và nuôi con.
Những điểm cần lưu ý khi tra cứu
Khi tra cứu tuổi hợp, có ba điểm dễ nhầm. Thứ nhất, nạp âm của năm sinh không giống hành của can và hành của chi; ví dụ năm Đinh Mùi có can Hỏa, chi Thổ, nhưng nạp âm là Thủy. Thứ hai, tuổi âm lịch đổi ở Tết chứ không ở ngày 1/1 dương lịch, còn Bát Tự đổi năm ở Lập Xuân; mốc của năm 2027 nêu ở đầu bài. Thứ ba, các sách có thể dùng các từ “hợp”, “khắc”, “xung”, “hại” với mức độ khác nhau; không nên lấy một câu kết luận duy nhất làm chuẩn cho mọi trường hợp.
Cách xem tuổi hợp theo can chi chỉ là một phần trong hệ thống lý học phương Đông, bên cạnh Tử Vi, Bát Tự, phong thủy. Mỗi môn có cách luận riêng và có thể cho kết quả khác nhau.
