
TL;DR: Hoành phi là tấm biển gỗ treo ngang trên mé trước bàn thờ, khắc ba bốn chữ Hán lớn; câu đối là đôi câu treo ở hai cột hoặc trên tường hai bên bàn thờ. Chữ trên đó nhằm tỏ lòng tôn kính của con cháu với tổ tiên và ghi tụng công đức tổ tiên. Nhà nghèo xưa thay hoành phi gỗ bằng tấm cót đóng nẹp dán giấy đỏ viết đại tự, thay câu đối gỗ bằng liễn giấy hồng.
Hoành phi và câu đối trên bàn thờ gia tiên là gì?
Hoành phi là tấm biển gỗ treo cao, nằm ngang trên mé trước bàn thờ, còn câu đối là đôi câu treo ở hai cột hoặc trên tường hai bên bàn thờ. Theo Bùi Xuân Mỹ (2001), hoành phi thường có chiều ngang ăn suốt gian nhà, khoảng ba thước, chiều cao độ một đến một thước hai, trên khắc ba bốn chữ Hán lớn[1]. Song Mai và Quỳnh Trang (tuyển soạn, 2006) cũng ghi nhận cách treo câu đối ở hai cột phía trước bàn thờ hoặc trên tường, mỗi bên một câu[3].
Ba cuốn sách đều có chung một cách hiểu: nội dung khắc trên hoành phi cũng như câu đối đều hướng tới việc con cháu bày tỏ lòng tôn kính với tổ tiên, đồng thời ghi lại, ca ngợi những công đức mà tổ tiên đã để lại[1][2][3].
Treo hoành phi ở đâu và bao nhiêu bức?
Theo Toan Ánh (2001), hoành phi được treo trên mé trước giường thờ, có nhà chỉ treo một bức trước bàn thờ tổ tiên, nhưng gia đình sung túc có thể treo tới hai ba bức, mỗi bức một lối chữ và một câu khác nhau[2]. Bùi Xuân Mỹ (2001) cũng ghi nhận chi tiết này[1].
Về chất liệu, sách của Toan Ánh cho biết hoành phi có nhiều lối làm khác nhau: bức thì sơn son chữ vàng, bức sơn đen chữ đỏ hoặc vàng, bức khảm xà cừ, lại có bức đóng theo hình cuốn thư[2]. Song Mai và Quỳnh Trang (2006) ghi tương tự: nhà khá giả thường sơn son thếp vàng hoặc sơn đen khảm xà cừ, còn nhà nghèo thì viết trên giấy hồng[3].
Chữ trên hoành phi thường viết những gì?
Theo Toan Ánh (2001), một số chữ đại tự thường thấy trên hoành phi gồm: Kính như tại nghĩa là con cháu kính trọng tổ tiên như tổ tiên lúc nào cũng tại vị trên bàn thờ; Phúc mãn đường nghĩa là gia đình đầy đủ phúc đức; Bách thế bất thiên nghĩa là bao giờ con cháu cũng ăn ở đúng mực, không thiên lệch[2]. Ba cụm chữ ấy được Song Mai và Quỳnh Trang (2006) chép lại nguyên vẹn, kèm cách cắt nghĩa không khác mấy[3].
Bùi Xuân Mỹ (2001) cho biết thêm: trên bức hoành phi, ngoài chữ đại tự còn ghi niên hiệu năm làm, mùa tháng nào; nếu bức hoành phi do một người con cháu cúng thì ghi tên tuổi người đó, và trường hợp này thường là hoành phi tại nhà thờ tổ họ hay trưởng chi họ[1].
Về câu đối, Song Mai và Quỳnh Trang (2006) dẫn một đôi câu đối mẫu thường thấy ở bàn thờ gia đình:
> Tổ tông công đức thiên niên thịnh > Tử hiếu tôn hiền vạn đại xương
Sách giải nghĩa: "Công đức tổ tông nghìn năm thịnh / Hiếu hiền con cháu vạn đời ngay"[3]. Đây là câu đối chữ Hán, đọc theo âm Hán Việt.
Toan Ánh (2001) cũng dẫn một đôi câu đối thông dụng khác thường thấy ở bàn thờ: "Phúc sinh lễ nghĩa gia đường thịnh / Lộc tiến vinh hoa phú quý xuân"[2].
Hoành phi, câu đối bàn thờ khác câu đối Tết thế nào?
Câu đối Tết là câu đối viết trên giấy đỏ, thường do thầy đồ viết vào dịp Tết và treo tạm trong nhà hoặc trước cửa; còn câu đối thờ là đôi câu treo cố định ở hai cột hoặc trên tường hai bên bàn thờ gia tiên, nội dung xoay quanh công đức tổ tiên và lòng hiếu kính của con cháu. Câu đối Tết có phạm vi rộng hơn, gắn với phong tục chúc Tết và có thể thay đổi hàng năm; câu đối thờ thường được làm bằng gỗ, sơn son thếp vàng hoặc khảm xà cừ, treo lâu dài và ít thay đổi. Bạn đọc muốn tìm hiểu sâu về câu đối Tết có thể xem bài Câu đối Tết có từ đâu và người xưa treo ở đâu?.
Nhà nghèo xưa thay hoành phi, câu đối bằng gì?
Theo Bùi Xuân Mỹ (2001), nhà nghèo không có hoành phi bằng gỗ thì lấy tấm cót, đóng thêm nẹp, rồi dán những tấm giấy đỏ có viết đại tự lên trên để treo thay[1]. Với câu đối, nhà nghèo dùng những đôi liễn hoặc những tờ giấy hồng có viết câu đối[1]. Toan Ánh (2001) cũng ghi nhận cách thay thế này[2].
Bảng tổng hợp: loại, chỗ treo, nội dung, sách ghi
| Loại | Chỗ treo | Nội dung thường gặp | Sách ghi |
|---|---|---|---|
| Hoành phi | Treo cao, nằm ngang trên mé trước bàn thờ; nhà nghèo dùng cót đóng nẹp dán giấy đỏ | Ba bốn chữ Hán lớn: Kính như tại, Phúc mãn đường, Bách thế bất thiên; ghi niên hiệu, tên người cúng | Bùi Xuân Mỹ (2001)[1], Toan Ánh (2001)[2], Song Mai và Quỳnh Trang (2006)[3] |
| Câu đối | Hai cột trước bàn thờ hoặc trên tường hai bên; nhà nghèo dùng liễn giấy hồng | Đôi câu chữ Hán hoặc Nôm, ca tụng công đức tổ tiên, lòng hiếu kính; có đôi tả cảnh an nhàn | Bùi Xuân Mỹ (2001)[1], Toan Ánh (2001)[2], Song Mai và Quỳnh Trang (2006)[3] |
Chữ Hán hay chữ Nôm trên hoành phi, câu đối?
Theo Bùi Xuân Mỹ (2001), hoành phi và câu đối đều bằng chữ Hán, nhưng có nhiều nhà dùng câu đối Nôm, hoành phi Nôm[1]. Toan Ánh (2001) và Song Mai, Quỳnh Trang (2006) cũng ghi nhận điều này[2][3]. Chữ Nôm là chữ do người Việt mượn chữ Hán để ghi tiếng Việt; bạn đọc muốn hiểu rõ hơn về hệ chữ này có thể xem bài Chữ Nôm: người Việt mượn chữ Hán để viết tiếng Việt thế nào.
Những điểm các sách không thống nhất hoặc còn thiếu
Về việc ai là người đầu tiên đặt ra tên gọi hoành phi, câu đối trong thờ cúng gia tiên, hay niên đại xuất hiện của tục treo hoành phi, câu đối trên bàn thờ, các sách không đề cập. Cũng không có sách nào trong ba cuốn nêu rõ sự khác biệt về quy cách treo hoành phi, câu đối giữa các vùng miền hay giữa người Kinh với các dân tộc khác. Các sách mô tả tập quán chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ, từ đầu đến cuối thế kỷ 20; không nên suy rộng ra cho Trung Bộ, Nam Bộ hoặc cho ngày nay khi sách không nói.
Về kích thước hoành phi, Bùi Xuân Mỹ (2001) ghi chiều ngang khoảng ba thước, chiều cao từ một đến một thước hai[1]; Toan Ánh (2001) cũng ghi tương tự[2]. Đây là kích thước ước lệ của loại hoành phi treo ở nhà thờ họ hoặc nhà giàu có, không phải quy chuẩn bắt buộc cho mọi gia đình.
Tục treo hoành phi, câu đối đặt trong bối cảnh thờ cúng tổ tiên
Trong quan niệm dân gian, việc treo hoành phi và câu đối trên bàn thờ không chỉ để trang trí mà còn là cách bày tỏ lòng thành kính với tổ tiên, nhắc con cháu nhớ công sinh thành dưỡng dục. Người ta tin rằng tổ tiên luôn hiện diện trên bàn thờ để chứng giám lòng thành của con cháu, nên chữ "Kính như tại" được dùng phổ biến[2][3].
Tuy nhiên, cần phân biệt giữa niềm tin dân gian và dữ kiện lịch sử: các sách phong tục ghi nhận sự tồn tại của tục treo hoành phi, câu đối trong thờ cúng gia tiên như một tập quán đã có từ lâu đời, nhưng không đưa ra bằng chứng niên đại cụ thể[1][2][3].
Gợi ý của Nhật Nguyệt
Nếu gia đình bạn có ý định treo hoành phi hoặc câu đối trên bàn thờ, có thể tham khảo các mẫu chữ và cách treo mà sách phong tục ghi nhận, nhưng nên đối chiếu với không gian thờ thực tế và phong tục của địa phương. Việc treo hoành phi, câu đối là một tập quán văn hoá, không phải quy định bắt buộc; mỗi gia đình có thể tuỳ điều kiện và truyền thống của mình mà chọn hình thức phù hợp.
