
TL;DR: Người Thái là một trong những dân tộc thiểu số lớn ở vùng Tây Bắc Việt Nam (Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái), tin theo tín ngưỡng vạn vật hữu linh với hệ thống thần linh bảo hộ bản mường. Lễ Xên bản, Xên mường là nghi lễ cúng thần linh, tổ tiên cầu mưa thuận gió hòa được tổ chức đầu xuân, còn Hạn Khuống là sàn tre dựng lên sau vụ gặt để nam nữ thanh niên hát giao duyên, tìm hiểu nhau.
Người Thái ở Việt Nam khác người Thái Lan như thế nào?
Người Thái (dân tộc Thái) là một trong 54 dân tộc của Việt Nam, cư trú lâu đời tại vùng Tây Bắc, chủ yếu ở các tỉnh Sơn La, Điện Biên, Lai Châu, Yên Bái, Hòa Bình và một phần Thanh Hóa, Nghệ An. Đây là một cộng đồng bản địa Việt Nam với ngôn ngữ, văn hóa và lịch sử riêng, hoàn toàn khác biệt với người dân nước Thái Lan dù cùng thuộc ngữ hệ Tai-Kadai. Người Thái ở Việt Nam gồm hai nhóm chính là Thái Đen (Tay Đăm) và Thái Trắng (Tay Đón), mỗi nhóm có sắc thái văn hóa và trang phục riêng, nhưng cùng chia sẻ nền tảng tín ngưỡng vạn vật hữu linh và một hệ thống lễ hội phong phú gắn với nông nghiệp lúa nước ở các thung lũng, cánh đồng ven sông vùng cao.
So sánh hai hình thức văn hóa tiêu biểu của người Thái Tây Bắc là Xên bản Xên mường và Hạn Khuống.
| Tiêu chí | Xên bản, Xên mường | Hạn Khuống |
|---|---|---|
| Loại hình | Lễ cúng tế thần linh | Sinh hoạt văn hóa dân gian |
| Thời điểm tổ chức | Đầu xuân, cuối tháng Giêng, đầu tháng Hai âm lịch | Tháng Mười Một âm lịch, sau mùa gặt |
| Đơn vị tổ chức | Bản hoặc mường | Thanh niên trong bản và các bản lân cận |
| Địa điểm | Miếu thờ trung tâm của mường | Sàn tre dựng trên khoảng sân trống giữa bản |
| Lễ vật, đạo cụ | Xôi, gà, rượu cần, trầu cau | Bếp lửa nhỏ, cây nêu lắc say |
| Hoạt động chính | Dâng lễ vật, cầu mùa màng, trò chơi dân gian | Hát đối đáp giao duyên khắp báo xao |
| Mục đích | Tạ ơn thần linh, cầu an, xua tà ma | Tìm hiểu, thổ lộ tình cảm, giữ gìn dân ca |
Vũ trụ quan và tín ngưỡng vạn vật hữu linh là gì?
Người Thái quan niệm thế giới có ba tầng: Mường Trời (nơi ngự trị của các vị thần tối cao), Mường Người (cõi trần) và Mường Bôn Đin (âm phủ). Xuyên suốt các tầng mường ấy là một hệ thống thần linh và ma (phi), bao gồm phi bản (thần bảo hộ bản làng), phi mường (thần bảo hộ vùng đất mường), phi hươn (thần giữ nhà), cùng linh hồn tổ tiên. Mỗi bản, mỗi mường đều có một hoặc một số vị thần bảo hộ riêng, thường gắn với một nhân vật có công khai phá đất đai hoặc lập bản từ thuở xa xưa, được thờ tại miếu (hoặc "đông", khu rừng thiêng) ở đầu bản.
Lễ Xên bản, Xên mường cúng tạ thần linh bảo hộ là gì?
Trong tiếng Thái, "Xên" nghĩa là cúng tế các đấng thần linh; "bản" là đơn vị làng, còn "mường" là đơn vị hành chính - lãnh thổ truyền thống rộng hơn, thường gồm nhiều bản. Xên bản là lễ cúng do cả bản cùng tổ chức, còn Xên mường có quy mô lớn hơn, do cả vùng mường cùng góp lễ, thường được tổ chức tại miếu thờ trung tâm của mường.
Lễ Xên bản, Xên mường thường diễn ra vào đầu xuân, cuối tháng Giêng, đầu tháng Hai âm lịch, khi hoa ban bắt đầu nở trắng núi rừng Tây Bắc. Đây là dịp cộng đồng dâng lễ vật (thường có xôi, gà, rượu cần, trầu cau) lên các vị thần bảo hộ bản mường và linh hồn tổ tiên để tạ ơn một năm cũ bình an, đồng thời cầu xin mưa thuận gió hòa, mùa màng tươi tốt, dân bản khỏe mạnh cho năm mới. Nghi lễ còn mang ý nghĩa "an ủi" các vong linh, ngăn không cho tà ma quấy nhiễu, giữ cho cuộc sống bản làng được yên ổn. Sau phần lễ trang nghiêm là phần hội với các trò chơi dân gian, thi ném còn, kéo co, hát đối đáp, gắn kết tình cảm cộng đồng qua nhiều thế hệ. Lễ Xên bản của người Thái ở Điện Biên đã được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia, thể hiện giá trị gắn kết cộng đồng đặc biệt của nghi lễ này.
Hạn Khuống là gì?
Khác với Xên bản mang tính chất thờ cúng, Hạn Khuống là một sinh hoạt văn hóa dân gian đậm chất trữ tình của thanh niên người Thái, thường được dựng lên vào tháng Mười Một âm lịch, sau khi mùa gặt kết thúc, thời điểm nông nhàn, thóc lúa đã về kho. "Hạn" trong tiếng Thái nghĩa là sàn, "Khuống" nghĩa là khoảng sân trống giữa bản, nên Hạn Khuống là một sàn tre được dựng trên khoảng sân trống ấy.
Sàn Hạn Khuống thường dài khoảng 6 mét, rộng 4 mét, cao hơn 1 mét, có lan can đan hình mắt cáo bao quanh, một cửa lên xuống với bậc thang 3-5 bậc. Ở giữa sàn đặt một bếp lửa nhỏ, bên cạnh dựng một cây nêu gọi là "lắc say". Trên sàn, các cô gái Thái vừa xe sợi, kéo bông, dệt vải, thêu thùa, vừa hát đối đáp với các chàng trai đứng dưới sân xin lên sàn, muốn được lên, các chàng trai phải hát hay, đối đáp khéo léo, có khi phải vượt qua những "thử thách" mà các cô gái đặt ra (như bắc thang giả, thang bị rút bậc) mang tính chất đùa vui, thử tài ứng biến.
Suốt đêm, sàn Hạn Khuống vang lên những câu hát giao duyên (khắp báo xao) đầy ý tứ, là dịp để trai gái trong bản và các bản lân cận tìm hiểu, thổ lộ tình cảm với nhau qua lời ca tiếng hát, không ít đôi lứa người Thái đã nên duyên chồng vợ từ những đêm Hạn Khuống như vậy. Đây được xem là một hình thức sinh hoạt văn hóa giáo dục nhẹ nhàng, giúp thanh niên trau dồi khả năng ứng đối, ứng xử, đồng thời giữ gìn vốn dân ca, dân vũ truyền thống của dân tộc.
Bảo tồn trong đời sống hiện đại
Cùng với những đổi thay của đời sống hiện đại, cả Xên bản Xên mường lẫn Hạn Khuống từng có giai đoạn mai một, ít được tổ chức thường xuyên. Tuy nhiên, trong khoảng hai thập niên gần đây, nhiều địa phương ở Sơn La, Điện Biên, Lai Châu đã chủ động phục dựng các nghi lễ và sinh hoạt văn hóa này, đưa vào các lễ hội văn hóa - du lịch thường niên, đồng thời khuyến khích nghệ nhân cao tuổi truyền dạy lại cho lớp trẻ. Với người Thái Tây Bắc, đây không đơn thuần là hoạt động phục dựng cho mục đích du lịch mà còn là cách để cộng đồng gìn giữ sợi dây kết nối với vũ trụ quan, tín ngưỡng và bản sắc văn hóa đã hình thành qua hàng trăm năm gắn bó với núi rừng, ruộng bậc thang Tây Bắc.
