Tri thức / Việt Nam

Phong tục dân tộc thiểu số

Những dân tộc ăn Tết riêng khác Tết Nguyên Đán là dân tộc nào?

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Những dân tộc ăn Tết riêng khác Tết Nguyên Đán là dân tộc nào?

TL;DR: Không phải dân tộc nào ở Việt Nam cũng đón năm mới vào dịp Tết Nguyên Đán. Người Mông ăn Tết Nào Pồ Trầu từ đầu tháng Chạp, người Hà Nhì đón Hồ Sự Chà vào tháng 12 dương lịch, người Khmer ăn Chôl Chnăm Thmây giữa tháng 4, người Chăm có Rija Nưgar và các lễ Păng Katê, Păng Chabư, còn nhiều tộc người Tây Nguyên ăn Tết theo mùa nông nghiệp kéo dài từ tháng Giêng đến tháng Ba. Một số dân tộc như Tà Ôi, Bru Vân Kiều nay ăn cả Tết cổ truyền lẫn Tết Nguyên Đán.

Những dân tộc ăn Tết riêng khác Tết Nguyên Đán là dân tộc nào?

Những dân tộc ăn Tết riêng khác Tết Nguyên Đán gồm người Mông ở Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, người Hà Nhì Hoa ở Lai Châu và Điện Biên, người Cống ở Điện Biên, người La Hủ ở Lai Châu, người Si La ở Lai Châu và Điện Biên, người Chăm, người Khmer Nam Bộ, cùng nhiều tộc người ở Trường Sơn và Tây Nguyên như Xơ Đăng, Mnông, Mạ, Brâu, Ê Đê, Hrê, Cơ Ho. Theo Tiến sĩ Trần Hữu Sơn, Viện trưởng Viện Nghiên cứu ứng dụng văn nghệ dân gian Việt Nam, các dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay có ba hình thức đón Tết theo lịch cổ truyền của tộc người mình, bên cạnh hình thức đón Tết Nguyên Đán[1][2].

Việc phân chia này dựa trên khảo sát thực địa của một nhà nghiên cứu văn hóa dân gian, công bố trên báo Văn hóa và VietnamPlus (TTXVN)[1][2].

Vì sao các dân tộc lại ăn Tết vào thời điểm khác nhau?

Nguyên nhân chính nằm ở lịch pháp và chu kỳ nông nghiệp của từng tộc người. Tết đón năm mới gắn với thời điểm chuyển giao giữa năm cũ và năm mới theo lịch pháp của từng tộc người, chứ không nhất thiết theo âm lịch phổ thông của người Kinh[2].

Ở Tây Nguyên, hầu hết tộc người bản địa theo nông lịch. Hằng năm, sau mùa khô hanh, khi có hạt mưa kèm theo những tiếng sấm đầu tiên trong năm báo hiệu mùa mưa sắp đến, khoảng cuối tháng Hai, đầu tháng Ba âm lịch, họ đều coi đó là thời điểm khởi đầu năm mới[2].

Với người Mông, Tết năm mới không cố định vào một ngày cụ thể, mà do hội đồng già làng trưởng bản ấn định trên cơ sở giao thời mùa vụ giữa năm cũ và năm mới, thời tiết thuận lợi. Vì vậy, từng bản, từng vùng có thể ăn Tết vào những ngày khác nhau trong khoảng thời gian đó[3][4].

Tết Nào Pồ Trầu của người Mông diễn ra khi nào và có gì đặc biệt?

Người Mông thường ăn Tết cổ truyền vào đầu tháng 12 âm lịch, trước Tết Nguyên Đán của người Kinh khoảng một tháng. Tết của người Mông có tên gọi Nào Pê Chầu, nghĩa là Ăn Tết ngày 30, vì theo quan niệm của người Mông thì 30 Tết là ngày diễn ra các nghi lễ chính để bước sang một năm mới[3].

Tết cổ truyền của người Mông kéo dài 3 đến 5 ngày với các đồ lễ như lợn, gà, bánh dày, hương, giấy dó. Lợn thường được các gia đình nuôi từ đầu năm, đến Tết mới thịt. Gà, đặc biệt là gà trống, là vật dâng cúng chính trong các nghi lễ ngày Tết. Người Mông quan niệm con gà là giống vật thiêng, có khả năng trừ ma và sai khiến được cả hồn người, trâu, bò, lợn, hồn thóc lúa[3].

Bánh dày tượng trưng cho mặt trăng, mặt trời, cho vũ trụ và nguồn gốc sinh ra con người, muôn loài, được làm từ gạo nếp nương, dùng để cúng, ăn trong Tết và làm quà biếu. Hương thắp được đồng bào làm từ loại cây rừng có tên là lộng xeng. Giấy dó làm từ cây giang bánh tẻ, dùng trang trí nhà cửa và làm tiền âm phủ[3].

Trong những ngày Tết, người Mông thường đua ngựa, đánh quay, đẩy gậy, bắn nỏ, hội Gầu tào, ném pao. Thanh niên nam nữ ăn mặc đẹp, rủ nhau đi chơi, thổi kèn lá, kèn môi, ném pao, hát đúm[3].

Các nghi lễ trước ngày Tết của người Mông

Từ ngày 25 tháng Chạp theo cách tính lịch của người Mông, người dân mổ những con lợn to để làm lễ tạ ơn tổ tiên, trời đất. Từ ngày 27 đến ngày 29 Tết, tại nhà thầy Mo, người Mông làm lễ thả âm binh (ua nênh tro khua) về ăn Tết với gia đình hoặc đi rong chơi ngày Tết. Chiều 30 Tết, người Mông dọn dẹp xung quanh nhà, sau đó làm lễ quét bồ hóng[3].

Lễ quét bồ hóng được thực hiện bằng cách chủ nhà lấy chỉ trắng hoặc đỏ buộc vào ba cành tre nhỏ còn lá xanh tạo thành một cái chổi, rồi quét nhà bắt đầu từ cột chính đến buồng ngủ của các thành viên trong gia đình, đến gian bếp, cửa phụ, ra gian bàn thờ xử ca, qua cửa chính rồi vứt rác ra vườn với mong muốn vứt bỏ những gì không tốt trong năm cũ[3].

Tết Hồ Sự Chà của người Hà Nhì có gì khác Tết Nguyên Đán?

Với đồng bào Hà Nhì, Tết Hồ Sự Chà là Tết mừng năm mới và là ngày lễ quan trọng nhất trong năm. Người Hà Nhì đón Tết Hồ Sự Chà cũng giống như người Việt đón Tết Nguyên Đán, nhưng được tổ chức sớm hơn, thường vào khoảng tháng 12 dương lịch, khi mùa màng đã xong xuôi. Người Hà Nhì lựa chọn ngày Thìn, tức ngày con Rồng, đẹp nhất trong tháng để làm lễ mừng năm mới, mừng mùa màng bội thu và cầu mong một năm mới mọi điều tốt lành[2].

Nghệ nhân Pờ Dần Xinh, bản Tả Kố Khừ, xã Sín Thầu, huyện Mường Nhé, tỉnh Điện Biên, cho biết lễ đón năm mới của người Hà Nhì bắt đầu từ sáng sớm. Đầu tiên, những người phụ nữ trong bản làm bánh trôi dâng cúng thần linh, xin phép cho gia đình mổ lợn ăn Tết[2].

Với người Hà Nhì, ngày Tết nhà nào cũng phải mổ lợn. Giống như người Việt cúng gà rồi dùng chân gà để xem vận hạn trong năm mới, đồng bào Hà Nhì mổ lợn và dùng bộ gan lợn để xem điều tốt xấu trong năm[2].

Người Hà Nhì nhìn vào lá gan lợn để biết năm nay gia đình mình tốt hay xấu, sức khỏe người trong nhà như thế nào, trâu bò lợn gà có béo tốt không, lúa gạo có được mùa không. Sau khi mổ lợn và xem lá gan, chủ nhà lấy ở mỗi bộ phận trên người con lợn một phần nhỏ, đem nấu cháo dâng cúng tổ tiên, thần linh, cầu mong mùa màng tốt tươi, trâu bò mạnh khỏe, gia đình gặp nhiều may mắn[2].

Sau đó, các thành viên trong gia đình tập trung ăn cơm mừng năm mới, rồi đi chúc Tết anh em, bà con trong bản. Khi màn đêm buông xuống, trong tiếng chiêng, trống rộn ràng, bà con trong bản cùng nắm tay nhau nhảy múa quanh đống lửa cho đến khuya. Tết của đồng bào Hà Nhì diễn ra trong 3 ngày[2].

Tết của người Khmer, người Chăm diễn ra vào thời điểm nào?

Người Khmer tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là Trà Vinh, Sóc Trăng. Hàng năm, dân tộc này đón năm mới vào đầu tháng Chét của lịch Phật giáo Khmer, tức giữa tháng 4 dương lịch. Tết của người Khmer được gọi là Chôl Chnăm Thmây, còn viết Bon Chôl Chnam Thmây. Vào dịp này họ gói bánh chưng, bánh tét, đi lễ chùa, chúc mừng lẫn nhau[4][1].

Người Chăm có đến hai dịp lễ lớn được xem như là Tết là Păng Katê, ngày 1 tháng 7 lịch Chăm, khoảng tháng 9 dương lịch, và Păng Chabư, ngày 16 tháng 7 lịch Chăm, khoảng tháng 2 đến tháng 3 dương lịch[4].

Theo quan niệm của người Chăm, Păng Katê là ngày tế lễ cho các vua Chăm xa xưa đã có công dựng nước, hướng dẫn dựng nông trang. Tết này thuộc về người cha, tượng trưng cho khí dương và được cử hành vào sáng sớm. Tết Păng Chabư là cúng tế các thần Pô Giang nữ, tức các hoàng hậu, công chúa Chăm thuộc dòng họ mẹ, tượng trưng cho khí âm nên cử hành vào buổi tối[4].

Ngoài ra, người Chăm còn đón Tết Rija Nưgar theo lịch riêng của tộc người mình[1][2].

Người Thái, người Khơ Mú và các tộc người Tây Nguyên đón năm mới ra sao?

Người Thái ở vùng Tây Bắc như Nghĩa Lộ, Yên Bái, đón Tết năm mới cùng thời điểm với Tết Nguyên Đán. Trong những ngày Tết, ngoài các nghi thức cúng mừng năm mới và cúng tổ tiên theo truyền thống cha ông, đồng bào Thái không thể thiếu dàn trống chiêng của làng bản. Đêm giao thừa, từ thời khắc đầu tiên của năm mới, tiếng trống chiêng vang lên rộn rã khắp các bản làng để mừng đón mùa Xuân về. Ban ngày bà con đi chúc Tết, buổi tối mang trống chiêng xuống sân, quây quần cùng nhau vui chơi, hát giao duyên, đánh trống chiêng[2].

Nghệ nhân Ưu tú Điêu Thị Xiêng, xã Nghĩa An, thị xã Nghĩa Lộ, tỉnh Yên Bái cũ, nay thuộc Lào Cai, kể rằng hơn chục năm nay, mùa Xuân nào bà con cũng tổ chức chơi Hạn Khuống và hội ném còn. Hạn Khuống là nơi giao duyên và là sân chơi cho các nam thanh nữ tú trong bản. Hội ném còn là nơi để bà con trong bản vui chơi trong ngày đầu Xuân, trước khi bước vào vụ mùa mới, với nhiều trò chơi truyền thống của người Thái như ném còn, leo cột mỡ, chơi tó mắc lẹ, kéo co, cuối cùng là cùng nắm tay nhau múa Xòe đoàn kết[2].

Người Khơ Mú cùng một số tộc người làm nương rẫy thường đón Tết năm mới vào tháng 9 hoặc tháng 10 âm lịch. Tết đón mừng năm mới của đồng bào Khơ Mú chính là Tết cơm mới. Sau này, một số nơi ăn Tết Nguyên Đán, nhưng Tết cơm mới vẫn quan trọng nhất, có nhiều nghi lễ và đồ cúng mang tính biểu tượng của ngày Tết[2].

Các dân tộc ở Trường Sơn và Tây Nguyên như Gia Lai, Ê Đê, Ba Na, Xơ Đăng, Cơ Ho, Hrê, Mnông, Raglai, Xtiêng, Cơ Tu, Gié Triêng, Mạ, Co, Chơ Ro, Chu Ru, Brâu, Rơ Măm không quan niệm một ngày Tết cụ thể mà đón Tết cả một thời gian dài từ tháng Giêng đến tháng Ba hằng năm[1][2].

Vào dịp này, mỗi tộc người đều tổ chức Tết đón năm mới mang đậm bản sắc riêng. Người Xơ Đăng làm lễ sửa máng nước và tổ chức Tết giọt nước, còn gọi On Đtrô Kneng Tea. Người Mnông tổ chức Tết cầu an cho cả buôn làng, gọi là Tăm blang m'prang. Người Mạ tổ chức Tết cúng thần lúa, gọi là Yang Koi. Người Brâu tổ chức Tết cúng trỉa lúa, gọi là Jamu chuôi. Người Ê Đê tổ chức Tết Mnăm thun. Người Hrê tổ chức Tết Htend[2].

Người Xơ Đăng ở Kon Tum ăn Tết Giọt nước vào khoảng tháng 3 dương lịch. Lễ hội đón mừng năm mới này diễn ra sau khi mãn mùa và các máng nước bắt đầu được sửa sang lại, nhằm cầu mong Thần nước, gọi là Yang Dak, ban cho dân làng năm mới được mùa, nước non đủ đầy[4].

Người K'Ho ở Lâm Đồng cũng không ăn Tết Nguyên Đán. Khoảng một tháng sau Tết Nguyên Đán của người Kinh, dân tộc này mới bắt đầu đón năm mới. Tết của họ gọi là Nhô Lir Bông, tức Tết mừng lúa về nhà. Ngày Tết này kéo dài cả tháng trời, được cúng tại kho lúa của mỗi gia đình, với sự tham gia của chủ làng cùng nhiều gia đình khác[4].

Vì sao một số dân tộc chuyển sang ăn cả Tết Nguyên Đán?

Một nhóm đồng bào dân tộc thiểu số như người Tà Ôi và người Bru Vân Kiều trước kia ăn Tết vào mùa khô như các tộc người ở Tây Nguyên, nhưng từ vài chục năm gần đây đã chuyển sang ăn hai Tết, cả Tết Nguyên Đán theo lịch chung của người Kinh lẫn Tết cổ truyền của riêng họ[1][2].

Ở các tỉnh vùng Tây Bắc và Bắc Trung Bộ, chính quyền chưa công nhận những ngày Tết cổ truyền của các dân tộc Hmông, Hà Nhì, Cống, La Hủ, Si La. Ở một số nơi, đồng bào còn bị vận động bỏ Tết cổ truyền để đón Tết Nguyên Đán như người Kinh, với lý do nghỉ Tết cổ truyền bị coi là lạc hậu và lãng phí thời gian lao động sản xuất[1].

Ngược lại, chính quyền địa phương ở một số tỉnh, thành phố như Vĩnh Long (trước 7/2025 là tỉnh Trà Vinh), thành phố Cần Thơ (trước 7/2025 là tỉnh Hậu Giang), Khánh Hòa (trước 7/2025 là tỉnh Ninh Thuận), An Giang đã công nhận ngày Tết của người Chăm và người Khmer, đồng thời cho công chức, viên chức, học sinh, công nhân nghỉ Tết theo lịch cổ truyền[1].

Bảng tra cứu nhanh Tết của các dân tộc ăn Tết riêng

Dân tộcTên TếtThời điểmĐặc điểm chính
MôngNào Pồ Trầu, Nào Pê ChầuĐầu tháng 12 âm lịch, trước Tết Nguyên Đán khoảng một thángKéo dài 3 đến 5 ngày, lễ vật lợn, gà, bánh dày, hương, giấy dó; hội Gầu tào, ném pao
Hà NhìHồ Sự ChàTháng 12 dương lịch, chọn ngày ThìnKéo dài 3 ngày, mổ lợn xem gan, làm bánh trôi cúng thần linh
CốngỦy La LóngTheo lịch riêng của tộc ngườiTết cổ truyền đón năm mới
La HủKhộ XớTheo lịch riêng của tộc ngườiTết cổ truyền đón năm mới
Si LaỒ Xị GiàTheo lịch riêng của tộc ngườiTết cổ truyền đón năm mới
KhmerChôl Chnăm ThmâyGiữa tháng 4 dương lịchGói bánh chưng, bánh tét, đi lễ chùa, chúc mừng nhau
ChămRija Nưgar, Păng Katê, Păng ChabưPăng Katê khoảng tháng 9, Păng Chabư khoảng tháng 2 đến 3 dương lịchPăng Katê tế vua Chăm, Păng Chabư cúng thần nữ
Xơ ĐăngTết Giọt nước, On Đtrô Kneng TeaKhoảng tháng 3 dương lịchSửa máng nước, cầu Thần nước Yang Dak
MnôngTăm blang m'prangMùa mưa đến, khoảng cuối tháng 2 đầu tháng 3 âm lịchTết cầu an cho cả buôn làng
MạYang KoiMùa mưa đếnTết cúng thần lúa
BrâuJamu chuôiMùa mưa đếnTết cúng trỉa lúa
Ê ĐêMnăm thunMùa mưa đếnTết đón năm mới
HrêHtendMùa mưa đếnTết đón năm mới
K'HoNhô Lir BôngKhoảng một tháng sau Tết Nguyên ĐánTết mừng lúa về nhà, kéo dài cả tháng, cúng tại kho lúa
Khơ MúTết cơm mớiTháng 9 hoặc tháng 10 âm lịchNhiều nghi lễ, đồ cúng mang tính biểu tượng ngày Tết

Nhìn Tết của các dân tộc như một di sản văn hóa

Khi nghiên cứu Tết, cần đặt trong môi trường sản sinh thực hành văn hóa. Tết đón năm mới hàm chứa giá trị truyền thống của từng tộc người. Ngày Tết không chỉ được xem xét, đánh giá dưới góc độ kinh tế đơn thuần, mà cần được đánh giá dưới góc độ di sản văn hóa đặc sắc[1].

Hiện nay, đời sống của người dân các dân tộc thiểu số được nâng cao, việc cố kết cộng đồng, tìm hiểu cội nguồn, bản sắc văn hóa dân tộc đang trở thành nhu cầu quan trọng. Người dân ở cơ sở đều có nguyện vọng được ăn Tết truyền thống của dân tộc mình. Ngày Tết luôn gắn liền với đời sống tâm linh, đời sống văn hóa khó có thể bỏ qua[1].

Ở nhiều quốc gia trên thế giới như Australia, Nhật Bản, mặc dù ăn Tết theo lịch dương nhưng vẫn tôn trọng những ngày Tết truyền thống của một số vùng, địa phương, dân tộc. Ở Australia, các bang có đông cộng đồng các dân tộc như người Việt, người Hoa, người Philippines thì Chính phủ nước này đều cho các cộng đồng này được nghỉ Tết. Năm 2018, Chính phủ Australia đã cho người Việt nghỉ Tết của Việt Nam vào ngày 15 tháng 2 năm 2018, tức ngày 30 Tết[1].

Gợi ý của Nhật Nguyệt: Khi tìm hiểu về Tết của các dân tộc thiểu số, người đọc nên đặt từng phong tục trong bối cảnh lịch pháp và mùa vụ của chính tộc người đó, thay vì so sánh với Tết Nguyên Đán theo hướng hơn kém. Sự khác biệt về thời điểm, nghi lễ, ẩm thực và trò chơi phản ánh tính đa dạng văn hóa, không phải mức độ đầy đủ hay mai một của một tập tục.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Dân tộc nào ở Việt Nam ăn Tết cổ truyền sớm nhất?

Theo báo Tiền Phong, người Mông thường ăn Tết cổ truyền vào đầu tháng 12 âm lịch, trước Tết Nguyên Đán của người Kinh khoảng một tháng. Còn VietnamPlus tả Tết Hồ Sự Chà của người Hà Nhì vào khoảng tháng 12 dương lịch, nên "sớm nhất" còn tuỳ cách tính. Tết năm mới của người Mông không cố định vào một ngày cụ thể mà do hội đồng già làng trưởng bản ấn định, nên từng bản, từng vùng có thể ăn Tết vào những ngày khác nhau trong khoảng thời gian đó.

Người Khmer và người Chăm đón năm mới vào thời điểm nào?

Người Khmer đón Tết Chôl Chnăm Thmây vào đầu tháng Chét của lịch Phật giáo Khmer, tức giữa tháng 4 dương lịch. Người Chăm có hai dịp lễ lớn được xem như Tết là Păng Katê, ngày 1 tháng 7 lịch Chăm, khoảng tháng 9 dương lịch, và Păng Chabư, ngày 16 tháng 7 lịch Chăm, khoảng tháng 2 đến tháng 3 dương lịch.

Vì sao các tộc người Tây Nguyên không ăn Tết vào một ngày cố định?

Phần lớn tộc người bản địa ở Tây Nguyên theo nông lịch. Họ coi thời điểm có những hạt mưa kèm tiếng sấm đầu tiên trong năm, báo hiệu mùa mưa và mùa làm rẫy sắp đến, khoảng cuối tháng Hai đầu tháng Ba âm lịch, là khởi đầu năm mới. Vì vậy họ đón Tết cả một thời gian dài từ tháng Giêng đến tháng Ba hằng năm, gắn với chu kỳ nông nghiệp chứ không theo một ngày cố định.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghijkBáo Văn hóa, Tết truyền thống của đồng bào các dân tộc thiểu số: Nên soi chiếu như di sản văn hóa đặc sắc, Phần 4 hình thức đón Tết và phần Nên đánh giá dưới góc độ di sản văn hoá đặc sắcCác dân tộc thiểu số ở Việt Nam hiện nay có ba hình thức đón Tết theo thời gian cụ thể, theo lịch cổ truyền của các dân tộc.
  2. ↑ abcdefghijklmnopVietnamPlus (TTXVN), Tết cổ truyền của các dân tộc thiểu số tại Việt Nam, Bài 1: Bức tranh văn hóa đa sắc màuTết đón mừng năm mới thường sẽ gồm chuỗi các nghi lễ, sinh hoạt văn hóa đặc sắc diễn ra vào thời điểm chuyển giao giữa năm cũ và năm mới theo lịch pháp của từng tộc người.
  3. ↑ abcdefgTiền Phong, Dân tộc nào ăn Tết cổ truyền sớm nhất ở nước ta?, Các câu hỏi về Tết cổ truyền của người MôngThông thường, Người Mông ăn Tết cổ truyền vào đầu tháng 12 âm lịch (trước Tết Nguyên đán của người Kinh một tháng).
  4. ↑ abcdefTiền Phong, Dân tộc nào ở Việt Nam không ăn Tết Nguyên đán?, Các câu hỏi về người Khmer, Xơ Đăng, K'Ho, ChămNgười Khmer tập trung chủ yếu ở đồng bằng sông Cửu Long, đặc biệt là Trà Vinh, Sóc Trăng.
#TếtNguyênĐán#TếtCổTruyền#DânTộcThiểuSố#TếtNgườiMông#TếtHàNhì#TếtKhmer#TếtNgườiChăm#TếtTâyNguyên#PhongTụcDânTộc