Tới nội dung

Tri thức / Việt Nam

Phong tục Tết

Từ mùng 1 tới mùng 7 Tết, mỗi ngày người Việt làm gì? Phong tục và ý nghĩa

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Từ mùng 1 tới mùng 7 Tết, mỗi ngày người Việt làm gì? Phong tục và ý nghĩa

TL;DR: Từ mùng 1 đến mùng 7 Tết, mỗi ngày gắn với một phong tục riêng: mùng 1 cúng gia tiên, xông đất, mừng tuổi; mùng 2 chúc Tết họ hàng, bắt đầu chọn ngày xuất hành, khai bút, mở hàng; mùng 3 hoặc mùng 4 hóa vàng tiễn tổ tiên (sách Việt Nam phong tục năm 1915 ghi mùng 4); mùng 5 dân gian kiêng xuất hành; mùng 7 khai hạ, hạ cây nêu. Xưa phần nhiều nhà chỉ ăn Tết ba hôm, có nhà tới bảy hôm, và ngày nay mỗi vùng, mỗi nhà làm một khác.

Từ mùng 1 tới mùng 7 Tết, mỗi ngày người Việt làm gì?

Tết Nguyên đán là dịp lễ lớn nhất trong năm của người Việt, kéo dài từ trước giao thừa đến hết mùng 7. Mỗi ngày trong tuần lễ Tết đều có những phong tục, hoạt động đặc trưng, phản ánh quan niệm về may mắn, sum họp và tưởng nhớ tổ tiên. Dưới đây là những nét chính về phong tục Tết của người Việt.

Mùng 1 Tết có tục xông đất và chúc Tết như thế nào?

Mùng 1 Tết là ngày quan trọng nhất, mở đầu năm mới. Phan Kế Bính (1915) chép: nửa đêm ba mươi rạng ngày mồng một cúng giao thừa, sáng mồng một làm cỗ cúng gia tiên, cỗ to nhỏ thế nào cũng phải có bánh chưng[1]. Hôm ấy ăn nói phải giữ gìn, sợ nói bậy thì giông cả năm, và nhiều nhà nhờ một người phúc hậu, dễ tính sáng sớm đến xông đất (xông nhà), để cả năm buôn may bán đắt[1]. Ngày nay nhiều gia đình còn chọn người xông đất hợp tuổi với gia chủ.

Sau đó là tục chúc Tết. Theo Phan Kế Bính, cúng gia tiên xong thì con cháu lạy mừng tuổi ông bà cha mẹ, ông bà cha mẹ mừng cho mỗi đứa vài xu, vài hào, gọi là tiền mừng tuổi; họ hàng, người quen đến nhà nhau lạy gia tiên, chúc nhau buôn bán phát tài, vạn sự như ý[1]. Còn tục lì xì bằng phong bao đỏ như ngày nay thì không rõ có từ bao giờ[3].

Người xưa kiêng quét nhà, đổ rác ngày mùng 1, có nơi kiêng tới mùng 3, vì sợ "quét" hết lộc ra ngoài[4]. Phan Kế Bính chép rằng quét tước thì chỉ vun rác vào một xó, đợi ba hôm, qua lễ động thổ mới đem đổ, và cho rằng tục này theo chuyện Âu Minh, Như Nguyện trong sách Sưu thần ký của Trung Hoa[1].

Mùng 2 Tết thường đi thăm hỏi gia đình và họ hàng ra sao?

Ngày nay mùng 2 thường là ngày con cháu đi chúc Tết họ hàng bên nội, bên ngoại. Phan Kế Bính chép tục cũ: các nhà con thứ, cha mẹ còn thì đem quà biếu; cha mẹ mất rồi thì hôm mồng hai phải làm cỗ đem đến nhà con trưởng cúng cha mẹ, mồng ba cũng như mồng hai[1]. Cũng từ mồng hai, người thì chọn ngày xuất hành, đi hái lộc, người làm quan chọn ngày khai ấn, học trò khai bút, nhà buôn mở cửa hàng, nhà quê làm lễ động thổ[1].

Ở vùng Tày, tản văn "Tết anh cả" của Y Phương viết: "Ngày mồng hai, bầu đàn vợ chồng, con cái sang chúc Tết ông bà nội ngoại…"[5].

Mùng 3 Tết có tục hóa vàng và tiễn đưa tổ tiên như thế nào?

Hóa vàng (đốt vàng mã) là lễ tiễn tổ tiên sau những ngày về ăn Tết cùng con cháu. Phan Kế Bính chép: đến ngày mồng bốn thì hóa vàng; ngày ấy xấu hay chạm ngày tuổi của chủ nhà thì hóa trước hay sau một ngày cũng được, có nhà để đến mồng bảy mới hóa vàng, gọi là ngày cúng tiễn ông vải[1]. Ngày nay nhiều gia đình hóa vàng vào chiều mùng 3, nên ngày hóa vàng khác nhau giữa các nhà.

Ngày nay, nhiều nơi khuyến khích hạn chế đốt vàng mã để bảo vệ môi trường.

Mùng 4 và mùng 5 Tết có nên tiếp tục du xuân và kiêng xuất hành ngày mùng 5 không?

Theo Phan Kế Bính, suốt tháng Giêng, kẻ chợ nhà quê đều lễ bái chùa này miếu nọ, du ngoạn, hội hè[1]; đi lễ chùa xin lộc đầu năm cũng là đề tài quen của tản văn về Tết sau 1986[2]. Tuy nhiên, dân gian có quan niệm kiêng xuất hành vào ngày mùng 5 Tết với câu "mùng 5, mùng 14, mùng 23 đi chơi còn lỗ nữa là đi buôn"[4]. Vì vậy, nhiều người tránh làm việc lớn, đi xa vào ngày này.

Mùng 6 và mùng 7 Tết có lễ khai hạ kết thúc Tết như thế nào?

Mùng 6 Tết, nhiều gia đình bắt đầu dọn dẹp, chuẩn bị cho công việc trở lại. Cây nêu được dựng mấy hôm trước Tết: theo Phan Kế Bính, nhiều nơi chặt tre dựng nêu, kết ba cái lạt rạ, buộc một bó vàng, có ý trừ quỷ, sợ năm mới quỷ vào quấy nhà[1]. Đến ngày mồng bảy hạ cây nêu, gọi là ngày khai hạ[1]. Sách cũng ghi có nhà ăn Tết một hôm, có nhà ba hôm, có nhà bảy hôm, nhưng phần nhiều là ba hôm[1].

Đầu thế kỷ 20 đã có người muốn bớt lễ. Sách Gia lễ giản yếu của Dương Bá Trạc (1932), mục Lễ tết, coi các tiết Đoan ngũ, thượng nguyên, trung nguyên, trung thu là vô ý nghĩa, nên thôi cả, chỉ giữ Tết Nguyên đán, Tết Thanh minh và Tết cơm mới[6].

Những ngày Tết có các phong tục kiêng kỵ gì?

Dân gian còn nhiều điều kiêng ngày Tết: kiêng làm vỡ đồ, kiêng cãi vã, kiêng vay mượn, kiêng mặc đồ đen trắng, kiêng ăn một số món như thịt vịt, chuối, trứng vịt lộn, tùy vùng[4].

Thượng tọa Thích Trí Chơn cho rằng phần lớn kiêng kỵ ngày Tết xuất phát từ mong muốn hướng thiện, không nên hiểu theo nghĩa sợ hãi hay mê tín cực đoan[4].

Phong tục Tết khác biệt giữa các vùng miền và dân tộc như thế nào?

Phong tục Tết có sự khác biệt giữa các vùng miền. Ở miền Bắc, Phan Kế Bính chép cỗ ngày Tết to nhỏ thế nào cũng phải có bánh chưng, cá kho, giò, chả, dưa hành[1]. Miền Nam chuộng bánh tét, củ kiệu, thịt kho hột vịt. Người Tày có các Tết riêng như Tết cả, Tết Slip Sli thịt vịt, Tết Hạ chí[5].

Gợi ý của Nhật Nguyệt

Việc hiểu rõ các phong tục từ mùng 1 đến mùng 7 Tết giúp bạn chủ động sắp xếp thời gian, cân bằng giữa nghỉ ngơi, sum họp và các hoạt động xã hội. Bạn có thể chọn giữ những phong tục phù hợp với hoàn cảnh gia đình, không nên quá đặt nặng hình thức. Điều quan trọng nhất trong những ngày Tết vẫn là không khí ấm áp, đoàn tụ và sẻ chia.

Bảng tóm tắt các ngày Tết

NgàyHoạt động chínhÝ nghĩa
Mùng 1Xông đất, chúc Tết, lì xìKhởi đầu may mắn, sum họp
Mùng 2Chúc Tết họ hàng, cúng ở nhà con trưởng, chọn ngày xuất hànhGắn kết tình thân
Mùng 3Hóa vàng (nhiều nhà ngày nay)Tiễn tổ tiên
Mùng 4Hóa vàng (theo Phan Kế Bính), du xuânTiễn tổ tiên, vui chơi
Mùng 5Kiêng xuất hành (dân gian)Tránh xui xẻo
Mùng 6Dọn dẹp, chuẩn bịChuyển giao
Mùng 7Khai hạ, kết thúc TếtHạ cây nêu, trở lại nhịp sống

Bảng trên chỉ là tóm tắt những nét phổ biến, tùy từng địa phương và gia đình có thể có điều chỉnh.

Câu hỏi thường gặp

Mùng 1 Tết có được quét nhà không?

Theo quan niệm dân gian, không nên quét nhà, đổ rác ngày mùng 1, có nơi kiêng tới mùng 3, vì sợ quét hết lộc[4]. Tục cũ là vun rác vào một xó, đợi ba hôm mới đem đổ[1].

Ngày mùng 3 Tết có phải là ngày hóa vàng không?

Không hẳn. Nhiều gia đình ngày nay hóa vàng chiều mùng 3, nhưng Phan Kế Bính (1915) chép tục hóa vàng ngày mồng bốn, ngày ấy xấu thì làm sớm hay muộn một ngày, có nhà để tới mồng bảy[1].

Mùng 7 Tết có phải là hết Tết không?

Mùng 7 là ngày khai hạ, hạ cây nêu, thường coi là hết Tết[1]. Theo Phan Kế Bính, phần nhiều nhà chỉ ăn Tết ba hôm, còn lễ chùa, du ngoạn, hội hè thì kéo suốt tháng Giêng[1].

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Mùng 1 Tết có được quét nhà không?

Theo quan niệm dân gian, không nên quét nhà, đổ rác ngày mùng 1, có nơi kiêng tới mùng 3, vì sợ quét hết lộc. Tục cũ là vun rác vào một xó, đợi ba hôm mới đem đổ.

Ngày mùng 3 Tết có phải là ngày hóa vàng không?

Không hẳn. Nhiều gia đình ngày nay hóa vàng chiều mùng 3, nhưng Phan Kế Bính (1915) chép tục hóa vàng ngày mồng bốn, ngày ấy xấu thì làm sớm hay muộn một ngày, có nhà để tới mồng bảy.

Mùng 7 Tết có phải là hết Tết không?

Mùng 7 là ngày khai hạ, hạ cây nêu, thường coi là hết Tết. Theo Phan Kế Bính, phần nhiều nhà chỉ ăn Tết ba hôm, còn lễ chùa, du ngoạn, hội hè thì kéo suốt tháng Giêng.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghijklmnopPhan Kế Bính (1915). Việt Nam phong tục. Đăng trên Đông Dương tạp chí 1913-1914, in thành sách 1915; bản số hoá: Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, in lại 1973, trang 43-46, mục Tứ thời tiết lạp, Tết nguyên đánĐến ngày mồng bảy hạ cây nêu, gọi là ngày khai hạ
  2. ↑Hà Nguyễn Thị (2023). Tết trong văn học Việt Nam – trường hợp nghiên cứu về Tết trong tản văn Việt Nam sau 1986, trang 5Đó là tục đầu năm đi lễ chùa xin lộc (Lễ chùa, xin lộc đầu năm - Lam Điền).
  3. ↑Hà Nguyễn Thị (2023). Tết trong văn học Việt Nam – trường hợp nghiên cứu về Tết trong tản văn Việt Nam sau 1986, trang 7Tục lệ lì xì ngày Tết không biết có từ bao giờ, trẻ con mong đến ngày Tết để được nhận lì xì.
  4. ↑ abcdeVũ Phượng (2026). Kiêng quét nhà, kiêng vay tiền đầu năm: Phong tục tết hay mê tín? Báo Thanh Niên, đoạn 3-4Một trong những điều kiêng kỵ quen thuộc nhất là không quét nhà, hốt rác trong ngày mùng 1, thậm chí kéo dài đến mùng 3 tết.
  5. ↑ abHà Nguyễn Thị (2023). Tết trong văn học Việt Nam – trường hợp nghiên cứu về Tết trong tản văn Việt Nam sau 1986, trang 6Ngày mồng hai, bầu đàn vợ chồng, con cái sang chúc Tết ông bà nội ngoại…
  6. ↑Dương Bá Trạc (1932). Gia lễ giản yếu, mục Lễ tếtCác ngày tiết lệ vô ý nghĩa như Đoan-ngũ, thượng-nguyên, trung-nguyên, trung-thu, nên thôi cả, chỉ những ngày tết nguyên đán, tết Thanh-minh
#TếtNguyênĐán#PhongTụcTết#Mùng1Tết#Mùng7Tết#XôngĐất#HóaVàng#KhaiHạ