Tri thức / Việt Nam

Phong tục Tết

Xông đất ở miền Bắc, Huế và Nam Bộ khác nhau thế nào, kiêng gì khi xông nhà?

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Xông đất ba miền khác nhau thế nào và kiêng gì khi xông nhà

TL;DR: Xông đất, xông nhà, đạp đất là cùng một tục: theo quan niệm dân gian, người tốt vía bước vào nhà đầu tiên sau giao thừa sẽ đem may cho cả năm. Sách về phong tục miền Bắc tả việc nhờ người phúc hậu, dễ tính tới xông, nhà có người thì tự xông; ở Huế tục gọi là đạp đất, không có tục hái lộc, ai ra ngoài đêm trừ tịch thì tránh về nhà sau giao thừa; ở Nam Bộ có thời gian vào khem từ đêm giao thừa tới khi người xông đất bước vào đạp chân xuống đất ba cái. Điểm chung là kiêng quét nhà đổ rác, kiêng nói bậy, kiêng làm đổ vỡ trong ngày mồng một.

Xông đất là gì và vì sao gọi là đạp đất?

Xông đất là tục chọn một người bước vào nhà gia chủ ngay sau thời khắc giao thừa hoặc vào sáng mồng một Tết, với niềm tin rằng vía của người ấy sẽ ảnh hưởng tới vận may của cả nhà trong năm mới. Tục này còn được gọi là xông nhà, và ở Huế người ta gọi là đạp đất, cái tên mà nhà nghiên cứu Trần Đức Anh Sơn cho là đúng tên cổ của tục[1]. Sách Nếp cũ của Toan Ánh viết xông nhà còn được gọi là xông đất, và nhà không có ai tự xông nhà lấy thì phải kén người xông[3].

Cần phân biệt xông đất với xuất hành. Xuất hành là việc người trong nhà tự bước ra khỏi nhà theo hướng và giờ đã chọn để gặp may, còn xông đất là việc người ngoài bước vào nhà mình. Sách Nếp cũ tách rõ hai tục này: người ta kén ngày kén giờ xuất hành, chọn hướng tốt, đi ra khỏi làng rồi trở về theo lối khác, và trên đường đi thì đồng thời hái lộc[3].

Người xông đất được chọn theo tiêu chí nào?

Theo sách Nếp cũ, tiêu chí chọn người xông nhà là người tốt vía, nhanh nhẹn, dễ dãi, để sáng mồng một tới xông nhà, mang lại ảnh hưởng tốt đẹp cho nhà chủ quanh năm[3]. Người đến xông nhà đốt pháo để mừng nhà chủ và chúc tụng chủ nhà những điều may mắn quanh năm; nhà chủ chúc tụng lại khách xông nhà và cảm ơn khách đã mang lại sự may mắn cho nhà mình[3].

Học giả Phan Kế Bính, trong Việt Nam phong tục, viết rằng nhiều nhà nhờ một người phúc hậu dễ tính sáng sớm đến xông đất để cả năm được bán đắt buôn may[2][4]. Cả hai sách đều lấy tính tình và cái vía của người xông làm tiêu chí.

Ở Huế, tiêu chí ấy được nói gọn thành nhẹ vía. Người ta mong người đến đạp đất nhà mình vào sáng mồng một là những người chức sắc, có học vấn, hoặc là người nhẹ vía, để tài lộc và may mắn theo họ đến với gia đình suốt cả năm sau đó[1]. Nhiều gia đình Huế còn dặn con cái: đứa nào nặng vía thì sáng mồng một không được dậy sớm, có tỉnh giấc thì phải nằm yên, chờ đứa khác nhẹ vía hơn, đã được cha mẹ dặn từ trước giao thừa (sách viết là "còm - măng"), đặt chân xuống đất trước, lúc đó những đứa khác mới được ra khỏi giường[1].

Miền Bắc, Huế và Nam Bộ khác nhau ở đâu?

Sách vở tả ba nơi khác nhau ở cách gọi, ở việc có hay không có tục hái lộc, và ở những điều phải giữ trong lúc chờ người xông.

NơiCách gọi trong sáchNgười xôngĐiều được tả riêng
Miền BắcXông đất (Phan Kế Bính)[4]; xông nhà, còn gọi xông đất (Toan Ánh)[3]Người phúc hậu, dễ tính[4]; người tốt vía, nhanh nhẹn, dễ dãi[3]Người nhà có thể tự xông, không có ai thì kén người; đi xuất hành thì đồng thời hái lộc[3]
HuếĐạp đất[1]Người chức sắc, có học vấn hoặc nhẹ vía[1]Không có tục hái lộc đầu năm; không ra khỏi nhà trước và sau giao thừa, ai ra ngoài thì tránh về nhà sau giao thừa[1]
Nam BộXông đất, đạp đất (Huỳnh Ngọc Trảng)[2]Người chủ nhà chọn theo ý muốn, nhà kỹ tính chọn cả giờ tốt[2]Vào khem từ đêm giao thừa; người xông bước vào nhà đạp chân xuống đất ba cái[2]

Điểm đáng chú ý là ở Huế, khác với ngoài Bắc, không có tục hái lộc đầu năm, nên người Huế không ra khỏi nhà trước và sau khi giao thừa, nhờ thế cây cối trong các đền chùa ở Huế vẫn giữ nguyên lộc biếc suốt cả mùa xuân[1]. Mấy năm gần đây, khi nhà nước tổ chức cầu truyền hình đêm giao thừa, một bộ phận cư dân Huế, nhất là lớp trẻ, đã biết ra khỏi nhà vào đêm trừ tịch, song ít ai trở về nhà sau lúc giao thừa, ấy là bởi cái tục đạp đất[1].

Vì sao người Huế không muốn về nhà sau giao thừa?

Điều này liên quan trực tiếp tới tục đạp đất. Vì không ai muốn tự mình đạp đất nhà mình, nên sau giao thừa người ta tránh bước chân trở vào nhà, để dành việc ấy cho người ngoài. Người Bắc cũng có lệ xông đất, nhưng dân Huế đã gọi rất đúng tên cổ tục này là đạp đất[1]. Sáng mồng một, nghi lễ đầu tiên là lễ cúng Nguyên Đán, sau lễ ấy gia chủ mới mở cửa đón khách đến thăm Tết[1].

Ở Nam Bộ, theo nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng trong sách Khảo luận về Tết, khoảng thời gian từ suốt đêm giao thừa cho đến ngày mồng một, cho đến khi có người xông đất hoặc đạp đất, được gọi là thời điểm vào khem, cụm từ được Lê Văn Phát ghi lại trong chuyên khảo viết về phong tục tập quán ở Nam Kỳ hồi đầu thế kỷ XX[2]. Thời gian vào khem kết thúc khi có người đến xông đất: người ấy bước vào nhà, đạp chân xuống đất ba cái, được chủ nhà tiếp trọng thị là xong thủ tục[2]. Vào khem nghĩa là bắt đầu tuân thủ những điều kiêng kị và thực hành một số tập tục với những quy ước nghiêm ngặt[2]. Trong thời gian đó, mọi người ở trong nhà, cửa chỉ mở hé và tất cả đều giữ im lặng, riêng trẻ con được dặn phải ngoan ngoãn để có được một năm mới tốt lành[2].

Kiêng gì khi xông nhà ở từng miền?

Theo nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, mọi kiêng kị trong dịp Tết Nguyên đán cốt tạo những điều tốt lành vào ngày đầu năm và cho cả năm tới[2]. Ngày mồng một tháng giêng là Nguyên đán, buổi sáng đầu tiên của Tết, là ngày khởi đầu của năm mới, nên dân gian quan niệm mọi việc diễn ra trong ngày này sẽ ảnh hưởng đến cả năm[2].

Theo học giả Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục, trong ngày mồng một Tết ăn nói phải giữ gìn, sợ nói bậy thì giông đi cả năm[4]. Việc quét tước trong nhà phải kiêng, không dám hốt rác đổ đi, chỉ vun vào một xó, đợi ba hôm động thổ rồi mới đem đổ[2]. Lý do được Phan Kế Bính dẫn từ Sưu thần ký: chuyện người lái buôn tên Âu Minh đi qua hồ Thanh Thảo, thủy thần cho một con hầu tên Như Nguyện, đem về nhà được vài năm thì giàu to; đến sau, nhân một hôm mồng một Tết đánh nó, nó chui vào đống rác mà biến mất, từ đấy nhà chàng kia lại nghèo đi, bởi thế ta theo tục Tàu mà kiêng không dám hốt rác[2].

Trong thời gian vào khem, người ta kiêng quét nhà vì cho rằng việc quét nhà sẽ làm mất đi của cải, và nếu có quét thì quét từ phía trước nhà ra đằng sau, tuyệt đối không quét ra phía trước[2]. Theo Huỳnh Ngọc Trảng, kiêng kị đầu năm ở miền Bắc và miền Trung cũng có phần tương tự: kiêng quét nhà vì sợ thần của cải đi mất, kiêng nói điều xấu, kiêng làm vỡ bát đĩa[2].

Nhà không có ai xông thì phải làm sao?

Sách Nếp cũ ghi rõ: trong trường hợp người nhà không có ai tự xông nhà lấy, người ta phải kén người xông nhà[3]. Nghĩa là nếu nhà không có người nhẹ vía, hoặc không ai muốn tự đạp đất nhà mình, thì gia chủ phải nhờ người ngoài. Người được kén là người tốt vía, nhanh nhẹn, dễ dãi[3].

Ở Huế, chuyện nhẹ vía được lo cả trong nhà: cha mẹ dặn từ trước giao thừa để đứa con nhẹ vía đặt chân xuống đất trước, sau đó những đứa khác mới được ra khỏi giường[1]. Với người ngoài, người ta mong người đến đạp đất là người chức sắc hoặc có học vấn[1].

Xông đất liên quan gì tới xuất hành và hái lộc?

Ba tục này thường được nhắc cùng nhau nhưng có chức năng khác nhau. Xuất hành là việc người trong nhà đi ra ngoài theo hướng tốt, thường áp dụng cho người làm ăn, quanh năm phải ra đi, nhân ngày Tết chọn ngày giờ để xuất hành, đi ra khỏi đất làng xã mình, ít nhất cũng ra khỏi thôn mình[3]. Người ta chọn hướng, mỗi năm chỉ có một hướng hợp, ra đi theo hướng tốt bằng một lối và lúc trở về làng lại theo một lối khác, không ai xuất hành nghịch hướng vì e gặp sự không may trong năm[3]. Người kiêng kỹ chỉ xuất hành nhằm hôm tốt, ngày vào giờ hoàng đạo[3].

Trong một làng, thường dân làng theo một hướng xuất hành, cùng đi trên một nẻo đường, gặp nhau vui vẻ, chúc tụng lẫn nhau[3]. Đi xuất hành, người ta đồng thời hái lộc[3]. Như vậy, hái lộc thường gắn với xuất hành chứ không gắn với xông đất. Ở Huế, vì không có tục hái lộc đầu năm, nên người Huế không ra khỏi nhà trước và sau giao thừa[1].

Ngày nay tục xông đất đã thay đổi thế nào?

Một số chi tiết của tục đã thay đổi theo thời gian. Việc đốt pháo khi đến xông nhà, được sách Nếp cũ ghi nhận, nay không còn phổ biến vì pháo đã bị cấm. Việc kén người xông đất ở Huế cũng có biến động: khi nhà nước tổ chức cầu truyền hình đêm giao thừa, một bộ phận cư dân Huế, nhất là lớp trẻ, đã biết ra khỏi nhà vào đêm trừ tịch, tuy vẫn ít ai trở về nhà sau lúc giao thừa[1].

Tuy vậy, cái lõi của tục vẫn được giữ: chọn người nhẹ vía, tính tình dễ dãi để bước vào nhà đầu năm, và kiêng những việc có thể làm mất đi của cải hoặc không khí tốt lành trong ngày mồng một. Đây là cách người Việt ở cả ba miền xử lý cùng một nỗi lo: làm sao để ngày đầu năm không mang điềm gở vào nhà.

Tóm lại Bắc, Huế và Nam Bộ khác nhau ở đâu?

Sự khác biệt lớn nhất nằm ở cách gọi và ở tục hái lộc. Sách về phong tục miền Bắc gọi xông đất, xông nhà, có hái lộc khi xuất hành, người nhà có thể tự xông. Huế gọi đạp đất, không có tục hái lộc đầu năm, không ra khỏi nhà trước và sau giao thừa, mong người ngoài tới đạp đất. Ở Nam Bộ, tục gắn với thời gian vào khem từ đêm giao thừa tới khi người xông đất bước vào, đạp chân xuống đất ba cái. Điểm chung là kiêng quét nhà đổ rác, kiêng nói bậy, và chọn người xông theo tiêu chí nhẹ vía, tốt tính.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Xông đất và đạp đất có phải là một tục không?

Đúng, đây là cùng một tục với hai cách gọi khác nhau. Sách về phong tục miền Bắc gọi là xông đất hoặc xông nhà, còn ở Huế gọi là đạp đất. Sách Nếp cũ ghi nhận tục xông nhà, trong đó người được kén là người tốt vía, nhanh nhẹn, dễ dãi, tới xông nhà sáng mồng một để mang lại ảnh hưởng tốt đẹp cho nhà chủ quanh năm.

Vì sao người Huế kiêng ra khỏi nhà trước và sau giao thừa?

Vì ở Huế không có tục hái lộc đầu năm, nên người Huế không ra khỏi nhà trước và sau giao thừa, nhờ thế cây cối trong các đền chùa ở Huế vẫn giữ nguyên lộc biếc suốt cả mùa xuân. Thêm nữa, không ai muốn về nhà sau giao thừa cũng bởi họ muốn tránh việc tự mình đạp đất nhà mình, để dành việc ấy cho người ngoài đến xông.

Kiêng quét nhà ngày Tết bắt nguồn từ đâu?

Theo học giả Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục, tục kiêng hốt rác có nguồn gốc từ chuyện trong Sưu thần ký: người lái buôn Âu Minh được thủy thần cho con hầu tên Như Nguyện, nhờ đó mà giàu; đến một hôm mồng một Tết đánh nó, nó chui vào đống rác biến mất, nhà lại nghèo đi. Bởi thế ta theo tục Tàu, kiêng không dám hốt rác, chỉ vun vào một xó, đợi ba hôm động thổ rồi mới đem đổ.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghijklmnZnews, Người Huế chơi Tết, Phần nói về tục đạp đất và tục hái lộc ở HuếKhác với ngoài Bắc, ở Huế không có tục hái lộc đầu năm nên người Huế không ra khỏi nhà trước và sau khi giao thừa.
  2. ↑ abcdefghijklmnZnews, Những việc kiêng kị và điều nên làm lấy may trong ngày đầu năm mới, Phần dẫn Phan Kế Bính và Huỳnh Ngọc Trảng về kiêng kị ngày TếtTheo nhà nghiên cứu Huỳnh Ngọc Trảng, mọi kiêng kị trong dịp Tết Nguyên đán cốt tạo những điều tốt lành vào ngày đầu năm, và cho cả năm tới.
  3. ↑ abcdefghijklmnZnews, Tục xông nhà dịp Tết của người Việt, Phần XÔNG NHÀ và XUẤT HÀNH, sách Nếp cũNgười được kén là người tốt vía nhanh nhẹn dễ dãi để sáng mồng một tới xông nhà, mang lại ảnh hưởng tốt đẹp cho nhà chủ quanh năm.
  4. ↑ abcdPhan Kế Bính (1915), Việt Nam phong tục, thiên thứ nhất, XII. Tứ thời tiết lạp, bản Wikisource
#XôngĐất#XôngNhà#ĐạpĐất#TếtNguyênĐán#PhongTụcTết#TếtBaMiền#KiêngKịNgàyTết