Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Việt Nam

Điển tích & thơ cổ

Ao thu lạnh lẽo nước trong veo, một chiếc thuyền câu bé tẻo teo.

Nguyễn Khuyến · Thu điếu (Câu cá mùa thu)

Tất cả (413)Lễ hội và ngày Tết (118)Tín ngưỡng và nghi lễ thờ cúng (88)Kiêng kỵ và xem ngày (26)Cộng đồng các dân tộc (73)Đời sống và con người (108)

Bài viết Việt Nam

Bàn thờ gia tiên: cách bài trí của người Việt Bắc Bộ và người Việt Nam Bộ khác nhau ra sao
Thờ cúng tổ tiên

Bàn thờ gia tiên: cách bài trí của người Việt Bắc Bộ và người Việt Nam Bộ khác nhau ra sao

So sánh bàn thờ gia tiên Bắc Bộ và Nam Bộ: vị trí, cấu tạo, đồ thờ, cách chọn mâm ngũ quả và số đời thờ cúng, kèm lý giải văn hoá, lịch sử.

Bánh ngày Tết ba miền: bánh chưng, bánh tét và những thứ bánh chỉ có ở một vùng
Vùng miền

Bánh ngày Tết ba miền: bánh chưng, bánh tét và những thứ bánh chỉ có ở một vùng

Bánh ngày Tết ba miền khác nhau ra sao: miền Bắc có bánh chưng, bánh phu thê, miền Trung có bánh tổ, bánh in, miền Nam có bánh tét, thịt kho và canh khổ qua.

Cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam: danh mục chính thức, phân bố và những nét văn hoá chung
Cộng đồng các dân tộc

Cộng đồng 54 dân tộc Việt Nam: danh mục chính thức, phân bố và những nét văn hoá chung

Việt Nam có 54 dân tộc theo Danh mục các thành phần dân tộc năm 1979. Danh mục chính thức, phân bố theo vùng và nét văn hoá chung.

Dân tộc Ba Na: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Ba Na: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Ba Na cư trú ở Gia Lai, Kon Tum và miền tây Bình Định, Phú Yên, Khánh Hoà; nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me và giữ nhiều lễ hội cộng đồng.

Dân tộc Bố Y: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Bố Y: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Bố Y gồm hai nhóm địa phương Bố Y và Tu Dí, cư trú ở Hà Giang và Lào Cai, nói hai ngữ hệ khác nhau và giữ nhiều tập tục thờ cúng, lễ tết riêng.

Dân tộc Brâu: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Brâu: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Brâu cư trú tập trung ở làng Đắc Mế, xã Bờ Y, Kon Tum. Tiếng nói thuộc nhóm Môn-Khơ Me, đời sống gắn với thờ cúng thần linh và lễ ăn mừng cơm mới.

Dân tộc Bru - Vân Kiều: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Bru - Vân Kiều: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Bru - Vân Kiều có 94.598 người, cư trú dọc Trường Sơn ở Quảng Bình, Quảng Trị, Thừa Thiên Huế. Tiếng nói, thờ cúng và lễ hội chính.

Dân tộc Chăm (còn gọi Chàm): nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Chăm (còn gọi Chàm): nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Chăm (Chàm) thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Polynéxia, cư trú chủ yếu ở Ninh Thuận, Bình Thuận và Nam Bộ, có hệ thờ cúng tổ tiên và lễ Katê đặc sắc.

Dân tộc Chơ Ro: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Chơ Ro: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Chơ Ro cư trú chủ yếu ở vùng núi thấp Đồng Nai, nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me, có lễ cúng thần lúa và lễ cúng thần rừng tổ chức ba năm một lần.

Dân tộc Chu Ru: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Chu Ru: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Chu Ru sống chủ yếu ở Lâm Đồng và Ninh Thuận, nói tiếng nhóm Malayô-Polynêxia, theo chế độ mẫu hệ, thờ cúng gắn với chu kỳ canh tác ruộng nước.

Dân tộc Chứt: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Chứt: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Chứt thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, cư trú chủ yếu ở Quảng Bình, có các nhóm Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng với tập tục thờ cúng và lễ hội riêng.

Dân tộc Cơ Ho: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Cơ Ho: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Cơ Ho cư trú chủ yếu ở Lâm Đồng, nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me, theo chế độ mẫu hệ, thờ thần Yang và ma Chà, có lễ ăn Tết đâm trâu sau mùa thu hoạch.

Dân tộc Cờ Lao: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Cờ Lao: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Cờ Lao cư trú ở Hà Giang, nói tiếng nhóm Ka Đai, thờ thần đất và hồn lúa, ăn Tết Nguyên đán cùng các Tết mùng 3 tháng 3, mùng 5 tháng 5.

Dân tộc Co: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Co: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Co sống lâu đời ở tây bắc Quảng Ngãi, tây nam Quảng Nam, nói tiếng nhóm Môn-Khơ Me, có hệ thống thờ cúng phong phú và lễ đâm trâu lớn nhất năm.

Dân tộc Cơ Tu: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Cơ Tu: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Cơ Tu cư trú ở miền núi Quảng Nam và Thừa Thiên Huế, nói tiếng thuộc ngữ hệ Nam Á, có nhà Gươl, lễ đâm trâu và tục dồn mồ đặc sắc.

Dân tộc Cống: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Cống: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Cống là một trong 54 dân tộc Việt Nam, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, nói tiếng thuộc nhóm Tạng - Miến và giữ nhiều tập tục thờ cúng, lễ hội riêng.

Dân tộc Dao: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Dao: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Dao trong 54 dân tộc Việt Nam: nơi cư trú, tiếng nói thuộc ngữ hệ Hmông - Dao, các nhóm địa phương, tập tục thờ cúng và lễ cấp sắc.

Dân tộc Ê Đê: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Ê Đê: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Người Ê Đê thuộc nhóm ngôn ngữ Malayô-Pôlinêxia, cư trú chủ yếu ở Đắk Lắk, nam Gia Lai, tây Phú Yên và Khánh Hòa, theo chế độ mẫu hệ, thờ đa thần.

Dân tộc Gia Rai: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Gia Rai: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Gia Rai thuộc ngữ hệ Nam Đảo, cư trú chủ yếu ở Gia Lai, Kon Tum, Đắk Lắk, theo chế độ mẫu hệ, thờ đa thần Yang và có lễ bỏ mả nổi tiếng.

Dân tộc Giáy: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Giáy: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Giáy cư trú ở Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, nói tiếng thuộc ngữ hệ Thái - Ka Đai. Tín ngưỡng gắn với bàn thờ gian giữa và các lễ tết.

Dân tộc Giẻ Triêng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Giẻ Triêng: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Giẻ Triêng sống quanh quần sơn Ngọc Linh, nói tiếng nhóm Môn Khơ Me, thờ đa thần và giữ nhiều lễ thức nông nghiệp gắn với chu kỳ rẫy.

Dân tộc Hà Nhì: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Hà Nhì: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Hà Nhì thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng Miến, cư trú ở Lai Châu và Lào Cai, có tập tục thờ cúng tổ tiên theo gia đình và các lễ tết riêng.

Dân tộc Hoa (còn gọi Hán): nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Hoa (còn gọi Hán): nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Dân tộc Hoa (Hán) trong 54 dân tộc Việt Nam: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng tổ tiên và lễ hội chính như Tết Nguyên đán, Nguyên tiêu, múa lân.

Dân tộc Hrê: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Cộng đồng các dân tộc

Dân tộc Hrê: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính

Người Hrê cư trú chủ yếu ở miền tây Quảng Ngãi và An Lão, Bình Định, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, có hệ thống thờ cúng đa thần và lễ đâm trâu lớn nhất.