Tới nội dung

Tri thức / Đông phương

Bát Tự

Không vong trong Bát Tự là gì? Cách tra và chỗ các sách cổ khác nhau

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Không vong trong Bát Tự là gì? Cách tra theo Tam mệnh thông hội, Uyên Hải tử bình và Thần phong thông khảo

TL;DR: Không vong, còn gọi tuần không hay tuần trung không vong, là hai địa chi không xuất hiện trong một tuần mười ngày can chi, ví dụ tuần Giáp Tý thì Không vong ở Tuất và Hợi. Cách tra rất gọn: xác định trụ ngày thuộc tuần nào trong sáu tuần Giáp, rồi đối chiếu cặp chi khuyết của tuần ấy với các chi trong tứ trụ. Các sách cổ luận Không vong cùng các phép khác: Tam mệnh thông hội xét nó theo sinh vượng tử tuyệt và các sao đi kèm, còn Tăng san bốc dịch (sách Lục Hào) cho rằng hào vượng, hào động không tính là không.

Không vong trong Bát Tự là gì?

Không vong là hai địa chi bị khuyết trong một tuần mười ngày của vòng can chi. Vòng can chi ghép mười thiên can với mười hai địa chi, nên cứ sau mười ngày sẽ dư ra hai chi không được ghép, và hai chi ấy gọi là Không vong, còn viết là tuần không hay tuần trung không vong, chữ Hán là 空亡 và 旬空. Trong Bát Tự, Không vong không phải một sao tốt hay xấu tự thân: nó là một bộ đánh dấu cho biết sao hay chi nào đang ở trạng thái hư, lực bị giảm, việc gì đó dễ thành hư ảo hoặc đến chậm.

Mệnh lý tham nguyên của Viên Thụ San (1915) nêu cách dùng trong Bát Tự: lấy tuần của trụ ngày; ngày thuộc tuần Giáp Tý thì chi năm hay chi giờ gặp Tuất, Hợi là Không vong, gặp Thìn, Tỵ, tức hai chi đối xung với Không vong, là cô hư[1].

Vì sao lại có hai chi khuyết trong mỗi tuần?

Nguyên nhân nằm ở chỗ mười can không đủ để ghép hết mười hai chi. Mười thiên can gồm Giáp, Ất, Bính, Đinh, Mậu, Kỷ, Canh, Tân, Nhâm, Quý; mười hai địa chi gồm Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Can dương chỉ ghép với chi dương, can âm chỉ ghép với chi âm, nên mỗi vòng mười ngày chỉ dùng được mười chi, còn lại hai chi bị bỏ trống. Hai chi bỏ trống ấy đổi theo từng tuần, tạo thành sáu cặp Không vong khác nhau. Ngũ hành đại nghĩa của Tiêu Cát đời Tùy giải tên gọi: trong một tuần, hai chi không có can để ghép gọi là cô, hai chi đối xung với chúng gọi là hư; chi lẻ không có can nên gọi là không vong[2].

Cách đếm rất đơn giản: lấy can của ngày đầu tuần làm mốc, đếm tiếp mười ngày, chi nào không xuất hiện trong mười ngày ấy chính là Không vong. Sách Tăng san bốc dịch của Dã Hạc lão nhân, ở chương 旬空章第二十六, chép đủ sáu câu: Giáp Tý tuần trung Tuất Hợi không, Giáp Tuất tuần trung Thân Dậu không, Giáp Thân tuần trung Ngọ Mùi không, Giáp Ngọ tuần trung Thìn Tỵ không, Giáp Thìn tuần trung Dần Mão không, Giáp Dần tuần trung Tý Sửu không[3]. Bản dịch Chu dịch với dự đoán học của Thiệu Vĩ Hoa và Mạnh Hà cũng chép lại đúng sáu câu này và giải thích thêm rằng tuần không là chuyện của nhật kiến, tức là của ngày gieo quẻ hay ngày lập cục[4].

Cách tra Không vong trong Bát Tự như thế nào?

Muốn tra Không vong, chỉ cần ba bước. Thứ nhất, xác định can chi của trụ ngày. Thứ hai, tìm xem trụ ngày ấy nằm trong tuần Giáp nào. Thứ ba, đối chiếu cặp chi Không vong của tuần ấy với các chi còn lại trong tứ trụ, chi nào trùng thì chi ấy phạm Không vong.

Tam mệnh thông hội là bộ sách Tử Bình được dùng nhiều từ đời Minh. Đề yếu của bản Tứ khố toàn thư khen sách đã gom các lời cũ về tên nghĩa của quan, ấn, tài, lộc, thực, thương, về độ nặng nhẹ của dụng thần và về cát hung của các thần sát, nhưng chê sách thiên về chính quan, chính ấn, chính tài mà không thấy thiên quan, thiên ấn, thiên tài cũng đắc lực[5]. Không vong là một trong các thần sát ấy, nên đọc nó phải đặt cạnh các phép khác của sách.

Bảng tra sáu cặp Không vong theo tuần Giáp

Bảng dưới đây là bảng tra chuẩn, dùng chung cho Bát Tự và cho lục hào. Cột thứ nhất là tuần, cột thứ hai là mười ngày trong tuần, cột thứ ba là hai chi Không vong.

TuầnMười ngày trong tuầnKhông vong
Giáp TýGiáp Tý, Ất Sửu, Bính Dần, Đinh Mão, Mậu Thìn, Kỷ Tỵ, Canh Ngọ, Tân Mùi, Nhâm Thân, Quý DậuTuất, Hợi
Giáp TuấtGiáp Tuất, Ất Hợi, Bính Tý, Đinh Sửu, Mậu Dần, Kỷ Mão, Canh Thìn, Tân Tỵ, Nhâm Ngọ, Quý MùiThân, Dậu
Giáp ThânGiáp Thân, Ất Dậu, Bính Tuất, Đinh Hợi, Mậu Tý, Kỷ Sửu, Canh Dần, Tân Mão, Nhâm Thìn, Quý TỵNgọ, Mùi
Giáp NgọGiáp Ngọ, Ất Mùi, Bính Thân, Đinh Dậu, Mậu Tuất, Kỷ Hợi, Canh Tý, Tân Sửu, Nhâm Dần, Quý MãoThìn, Tỵ
Giáp ThìnGiáp Thìn, Ất Tỵ, Bính Ngọ, Đinh Mùi, Mậu Thân, Kỷ Dậu, Canh Tuất, Tân Hợi, Nhâm Tý, Quý SửuDần, Mão
Giáp DầnGiáp Dần, Ất Mão, Bính Thìn, Đinh Tỵ, Mậu Ngọ, Kỷ Mùi, Canh Thân, Tân Dậu, Nhâm Tuất, Quý HợiTý, Sửu

Ví dụ: một người sinh ngày Giáp Tý. Trụ ngày thuộc tuần Giáp Tý, Không vong là Tuất và Hợi. Nếu chi năm, chi tháng hay chi giờ là Tuất hoặc Hợi, chi ấy phạm Không vong; Mệnh lý tham nguyên chỉ nêu chi năm và chi giờ[1]. Nếu tứ trụ không có Tuất và Hợi, thì toàn bộ tứ trụ không phạm Không vong, dù vẫn có thể có Không vong ở đại vận hoặc lưu niên khi vận ấy rơi vào Tuất hoặc Hợi.

Không vong khác gì với Tuần và Triệt trong tử vi?

Đây là chỗ dễ lẫn nhất, vì cả ba tên đều mang nghĩa "không". Không vong trong Bát Tự là chuyện của vòng can chi mười ngày, tính từ trụ ngày. Tuần và Triệt lại là khái niệm của tử vi, tính từ năm sinh và an theo vị trí cung.

Sách Lý thuyết tượng số của Hoàng Tuấn (2008) giải thích Tuần Không, còn gọi Tuần Trung Không Vong, đóng ở sáu cặp giáp biên của mười hai cung địa bàn, mỗi vị trí là điểm nối giữa cuối một con Giáp trên và đầu một con Giáp dưới[6]. Cách nói ấy thuộc tử vi, không phải Bát Tự, nhưng giúp phân biệt: Không vong Bát Tự là hệ quả của phép đếm can chi, còn Tuần và Triệt là quy ước an sao của tử vi.

Các trường phái luận Không vong có thống nhất không?

Không thống nhất, và chỗ khác nhau nằm ở ba điểm.

Thứ nhất là Không vong nặng hay nhẹ tùy gì. Tam mệnh thông hội, theo lời dẫn trong Mệnh lý tham nguyên, xét Không vong cùng sinh vượng tử tuyệt: gặp sinh vượng thì khí độ rộng rãi, nhiều danh lợi ngoài ý muốn; gặp tử tuyệt thì nhiều thành nhiều bại, phiêu bạt không chỗ; đi cùng Quý nhân, Hoa cái, Tam kỳ, Trường sinh thì rất thông minh[1].

Thứ hai là hai chi Không vong có chia nhau không. Ngũ hành tinh kỷ của Liêu Trung (1228) dẫn sách Lâm Khai ngũ mệnh chia theo nửa tuần: trong tuần Giáp Tý, từ Giáp Tý tới Mậu Thìn thì Tuất là Không vong, từ Kỷ Tỵ tới Quý Dậu thì Hợi là Không vong[7]. Phần lớn sách đời sau không chia, coi cả hai chi đều là Không vong của cả tuần.

Thứ ba là khi nào không còn tính là không. Đây là chuyện của Lục Hào: Tăng san bốc dịch chép rằng hào vượng không tính là không, hào động không tính là không, hào được nhật kiến hay hào động sinh phò không tính là không, hào động hóa không và hào phục mà vượng tướng cũng không tính là không; còn nguyệt phá, hào phản phục bị khắc và chân không (thổ mùa xuân, kim mùa hạ, mộc mùa thu, hỏa mùa đông) mới là không[3]. Lời bình của Lý Ngã Bình trong sách ví hào động lâm Nhật Nguyệt mà hóa không, hóa phá như mây che mặt trời: đến ngày thực không, thực phá thì mây tan[3]. Tứ trụ không có hào động, nên mượn các luật này sang Bát Tự chỉ nên coi là gợi ý về vượng suy.

Tam mệnh thông hội luận Không vong ra sao?

Tam mệnh thông hội nhắc Không vong rõ nhất ở mục Thập ác đại bại: trong sáu tuần Giáp có mười ngày mà lộc của can ngày rơi vào Không vong, như ngày Giáp Thìn, Ất Tỵ (lộc của Giáp ở Dần, của Ất ở Mão, mà tuần Giáp Thìn lấy Dần, Mão làm Không vong), ngày Nhâm Thân (lộc của Nhâm ở Hợi, tuần Giáp Tý lấy Hợi làm Không vong). Sách dặn chỉ xét khi thấy ở trụ ngày, và người phạm chưa chắc đều xấu: có cát thần phò, quý khí giúp thì vẫn luận là tốt[8].

Đề yếu của bản Tứ khố toàn thư còn ghi rằng sách gốc không nêu tên người soạn, chỉ đề Dục Ngô sơn nhân; người soạn Tứ khố cho là Vạn Dân Anh, còn Nghệ văn chí của Minh sử chép lệch thành Vạn Dân Dục và Tam mệnh hội thông. Các bát tự quan lại cuối đời Minh trong sách là do nhà in đời sau chen vào, không còn là bản cũ[5]. Vì vậy khi trích dẫn Tam mệnh thông hội, nên ghi rõ đang dẫn bản nào.

Đọc Không vong trong thực hành cần lưu ý gì?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: Không vong là một phép đánh dấu mức độ, không phải lời phán về số phận. Khi thấy một chi trong tứ trụ phạm Không vong, việc nên làm là hỏi xem chi ấy đang đóng vai gì trong toàn cục, có được sinh phò không, có gặp xung hợp không, và đang ở đại vận nào. Nếu chi ấy vượng, được sinh phò, thì theo cách đọc của Tam mệnh thông hội, Không vong không hẳn là xấu[1]. Nếu chi ấy suy, bị khắc, thì Không vong chỉ là một dấu cộng thêm vào tình trạng đã yếu sẵn.

Cũng cần tránh hai lỗi thường gặp. Lỗi thứ nhất là coi Không vong ở một chi là dấu hiệu chắc chắn về chuyện hôn nhân, con cái hay tiền bạc: các sách gốc không nói như vậy, và mọi kết luận kiểu ấy đều vượt quá điều sách chép. Lỗi thứ hai là coi Không vong là vô hiệu, bỏ qua hoàn toàn: các sách gốc đều dùng nó như một biến số, bỏ qua thì mất một tầng thông tin.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Không vong trong Bát Tự là gì?

Không vong, còn gọi tuần không hay tuần trung không vong, là hai địa chi bị khuyết trong một tuần mười ngày can chi. Ví dụ tuần Giáp Tý gồm mười ngày từ Giáp Tý tới Quý Dậu, thiếu hai chi Tuất và Hợi, nên Tuất và Hợi là Không vong của tuần ấy.

Cách tra Không vong trong Bát Tự như thế nào?

Lấy can chi trụ ngày, xem trụ ngày thuộc tuần Giáp nào trong sáu tuần Giáp, rồi đối chiếu cặp chi Không vong của tuần ấy với các chi còn lại trong tứ trụ, nhất là chi năm và chi giờ. Chi nào trùng thì chi ấy phạm Không vong. Các sách cổ luận Không vong cùng sinh vượng tử tuyệt và các sao đi kèm, không dùng nó một mình để kết luận cát hung.

Không vong có phải lúc nào cũng làm yếu đi không?

Không phải. Tam mệnh thông hội cho rằng Không vong gặp sinh vượng thì khí độ rộng rãi, gặp tử tuyệt mới nhiều thành nhiều bại. Trong Lục Hào, Tăng san bốc dịch chép rằng hào vượng, hào động, hào được nhật kiến hay hào động sinh phò đều không tính là không; nguyệt phá và chân không mới là không thật.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdViên Thụ San (1915). Mệnh lý tham nguyên (命理探原, Viên Thụ San), Mục Không vong如日元在甲子旬中,年支时支见戌亥,即是空亡,见辰巳即是孤虚
  2. ↑Tiêu Cát (594). Ngũ hành đại nghĩa (五行大義, 5 quyển), Đoạn về cô hư của sáu tuần Giáp一旬之內。二支無配偶者。爲之孤。所對衝者。爲之虛
  3. ↑ abcDã Hạc lão nhân và Lý Văn Huy (tăng san) (không rõ năm). Tăng san Bốc Dịch (增刪卜易), Chương 旬空章第二十六, và lời bình của Lý Ngã Bình về hào động lâm Nhật Nguyệt hóa không, hóa phá旺不爲空,動不爲空,有日建動爻生扶者不爲空,動而化空、伏而旺相皆不爲空。月破爲空。
  4. ↑Thiệu Vĩ Hoa và Mạnh Hà (dịch). Chu dịch với dự đoán học (bản dịch Mạnh Hà), Mục VII. Tuần không của hào, trang 82Giáp tý tuần không ở tuất hợi; Giáp tuất tuần không ở thân, dậu; Giáp thản tuần không ở ngọ, mùi; Giáp ngọ tuần không ở thin, tỵ; Giáp thin tuần không ở dần, mão; Giáp dần tuần không ở tý, sứu.
  5. ↑ abVạn Dân Anh (1578). Tam mệnh thông hội (三命通會, bản Tứ khố toàn thư, quyển 1 và quyển 3 tới 12), Đề yếu Tứ khố toàn thư中間所載仕宦八字往往及明季之人葢後来坊刻所攙入亦己非原本之舊
  6. ↑Hoàng Tuấn. Lý thuyết tượng số: ứng dụng Kinh Dịch và nguyên lý toán nhị phân, Trang 80, phần luận Tuần Không và TriệtCòn Tuần Không (Hay Tuần Trung Không Vong) thì đóng đủ cả 6 cặp giáp biên của 12 cung địa bàn.
  7. ↑Liêu Trung (1228). Ngũ hành tinh kỷ (五行精紀, 34 quyển), Mục Luận không vong (論空亡)每旬管兩空亡,分前後五辰,各有所屬,假令甲子旬中無戌亥,自甲子至戊辰,以戌為空亡,自己巳至癸酉,以亥為空亡
  8. ↑Vạn Dân Anh (1578). Tam mệnh thông hội (三命通會, bản Tứ khố toàn thư, quyển 1 và quyển 3 tới 12), Mục Thập ác đại bại (十惡大敗)命中犯者當以日上見之為是其餘不論况犯者未必皆㐫若内有吉神相扶貴氣相輔當為吉論
#KhôngVong#TuầnKhông#BátTự#TửBình#TamMệnhThôngHội#MệnhLýThamNguyên#TăngSanBốcDịch#TứTrụ