Nhật Nguyệt

Tri thức / Đông phương

Triết học khoa học

Tử Vi, Bát Tự, Thái Ất từ đâu mà có: sử học khoa học nói gì về các hệ tính số mệnh

Chia sẻ:
Tử Vi, Bát Tự, Thái Ất từ đâu mà có: sử học khoa học nói gì về các hệ tính số mệnh
TL;DR: Các hệ tính số mệnh bằng can chi như Tử Vi, Bát Tự, Thái Ất được giới nghiên cứu lịch sử khoa học mô tả là những kỹ thuật tính toán xây trên nền lịch can chi và thiên văn cổ, hình thành và biến đổi qua nhiều thế kỷ. Các chuyện tổ sư như Trần Đoàn là truyền thống quy tác giả, không phải sự kiện đã được chứng minh. Chỗ bằng chứng còn thiếu, đặc biệt về nguồn gốc Tử Vi và Tử Bình, cần nói rõ là chưa đủ dữ liệu.

Nhãn trong bài:Quan niệm dân gianChưa đủ bằng chứngCách đọc nhãn

Câu trả lời ngắn: chúng là kỹ thuật tính toán, không phải mặc khải

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnCác hệ tính số mệnh bằng can chi như Tử Vi, Bát Tự, Thái Ất không xuất hiện như một mặc khải từ trên trời rơi xuống, mà theo cách mô tả của giới nghiên cứu lịch sử khoa học, chúng là những kỹ thuật tính toán dựng trên nền lịch can chi và thiên văn cổ, được bồi đắp, chỉnh sửa và truyền dạy qua nhiều thế kỷ. Nhà nghiên cứu Ho Peng Yoke trong sách *Chinese Mathematical Astrology: Reaching Out to the Stars* (2003) đặt Thái Ất, Kỳ Môn, Lục Nhâm và các phép tính mệnh cá nhân vào dòng lịch sử kỹ thuật, nghĩa là xem chúng như những công cụ tính toán có quá trình hình thành cụ thể, không phải như chân lý được ban sẵn. Cách tiếp cận này không nhằm bênh vực hay bác bỏ, mà nhằm trả lời câu hỏi: ai đã dùng, dùng bằng dữ liệu gì, và kết quả được ghi lại ra sao.

Ho Peng Yoke 2003: Thái Ất, Kỳ Môn, Lục Nhâm như lịch sử kỹ thuật

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnHo Peng Yoke mô tả ba hệ Thái Ất, Kỳ Môn, Lục Nhâm như những kỹ thuật tính toán có lịch sử riêng, gắn với lịch pháp và thiên văn Trung Hoa. Điểm đáng chú ý là chúng không được trình bày như một khối thống nhất, mà như các truyền thống có biến thể, có tranh luận nội bộ về cách an sao, cách đặt cục, cách tính ngày giờ. Việc tính mệnh cá nhân, theo cách mô tả này, là một nhánh phát triển muộn hơn so với các phép dự báo quốc gia, quân sự và lịch pháp. Nói cách khác, phần tính toán có thật, còn phần suy diễn sang vận mệnh là lớp diễn giải được gắn lên sau đó.

Xã hội sử bói toán thời Thanh: người hành nghề và vị trí xã hội

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnRichard J. Smith trong *Fortune-tellers and Philosophers: Divination in Traditional Chinese Society* (1991) mô tả bói toán thời Thanh như một hệ thống nghề nghiệp có phân tầng xã hội rõ rệt: có người hành nghề ở chợ, có người được mời vào nhà quan lại, có người viết sách để lại cho đời sau. Bát tự, chọn ngày, phong thủy là những nhánh được nhắc tới trong bức tranh đó. Smith không cố gắng chứng minh các hệ này đúng hay sai, mà mô tả chúng như một phần của đời sống xã hội, có khách hàng, có quy tắc nghề, có cạnh tranh giữa các thầy. Đây là mức A của quy tắc 13: dữ kiện lịch sử xã hội, nói thẳng, kèm tên tác giả và năm.

Lịch can chi và thiên văn: phần tính toán có thật

Joseph Needham và Wang Ling trong *Science and Civilisation in China*, tập 3 (1959) mô tả nền thiên văn và lịch pháp Trung Hoa cổ, trong đó can chi là hệ đánh dấu thời gian được dùng rộng rãi. Can chi không phải là một phát minh của các hệ tính mệnh; nó là công cụ lịch pháp có trước, và các hệ tính mệnh mượn nó làm đầu vào. Điều này quan trọng vì nó tách hai lớp: lớp lịch pháp có thể kiểm chéo với lịch in hoặc bảng tính độc lập, còn lớp diễn giải vận mệnh từ can chi là quy ước của từng phái. Loại tri thức: Dân gianQuan niệm dân gian. Điều người ta tin, kiêng hay truyền miệng, ghi lại như một niềm tin chứ không như một sự thật đã kiểm. Năm loại nhãnNhà nghiên cứu Dumoutier trong *Rituel funéraire des Annamites* (1904) ghi lại cách người Việt gắn mười hai con giáp với mười hai cung hoàng đạo phương Tây, cho thấy sự vay mượn và dịch chuyển khái niệm đã diễn ra từ lâu.

Tuyển tập Erlangen về lý thuyết và thực hành bói toán Đông Á

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnMichael Lackner chủ biên *Coping with the Future: Theories and Practices of Divination in East Asia* (2018) tập hợp các nghiên cứu về lý thuyết và thực hành bói toán ở Đông Á, trong đó có các bài về Kinh Dịch, về bát tự, về các phương pháp chọn ngày. Tuyển tập này cho thấy giới nghiên cứu không xem bói toán là một khối mê tín đồng nhất, mà là một tập hợp các truyền thống có lý thuyết nội bộ, có tranh luận, có biến đổi theo thời gian và khu vực. Mức A: đây là dữ kiện học thuật, nói thẳng, kèm tên sách và năm.

Tử Vi ở Việt Nam: điều nguồn có nói và điều chưa có nguồn

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnCác nguồn học thuật trong kho tư liệu hiện có chưa cung cấp một nghiên cứu riêng về nguồn gốc Tử Vi ở Việt Nam, cũng chưa có nghiên cứu riêng về các phái Tử Vi Việt như Tân Biên. Điều này cần được nói rõ: đây là chỗ bằng chứng còn thiếu, không phải chỗ đã có kết luận. Những gì có thể nói dựa trên nguồn hiện có là Tử Vi, giống các hệ khác, dùng can chi và lịch pháp làm đầu vào, và phần diễn giải vận mệnh là quy ước của từng phái. Việc truy nguồn gốc Tử Vi về một cá nhân cụ thể như Trần Đoàn là truyền thống quy tác giả, mức C của quy tắc 13: truyền thống quy cho ông, nhưng nghiên cứu hiện đại không coi đó là đã chứng minh.

Bảng: các nguồn học thuật và phạm vi chứng minh

NguồnTác giả, nămPhạm vi chứng minhMức chứng cứ
*Chinese Mathematical Astrology*Ho Peng Yoke, 2003Mô tả Thái Ất, Kỳ Môn, Lục Nhâm và tính mệnh cá nhân như lịch sử kỹ thuậtA
*Fortune-tellers and Philosophers*Richard J. Smith, 1991Xã hội sử bói toán thời Thanh: bát tự, chọn ngày, phong thủy, người hành nghềA
*Science and Civilisation in China*, tập 3Needham và Wang Ling, 1959Nền thiên văn, lịch pháp đứng sau can chiA
*Coping with the Future*Michael Lackner (chủ biên), 2018Lý thuyết và thực hành bói toán Đông ÁA
*Rituel funéraire des Annamites*Dumoutier, 1904Ghi chép về việc gắn con giáp với cung hoàng đạoA
Nguồn gốc Tử Vi ở Việt Namchưa có trong khoChưa có nghiên cứu riêng

Phép thử và dữ liệu: viết về cái gì, không viết về ai

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnKhi nói về các hệ tính số mệnh, cần phân biệt hai loại câu hỏi: câu hỏi về lịch sử hình thành và câu hỏi về hiệu lực dự báo. Câu hỏi thứ nhất thuộc sử học, có thể trả lời bằng văn bản, bản thảo, ghi chép của người hành nghề. Câu hỏi thứ hai thuộc phạm vi kiểm nghiệm, và cho tới nay chưa có nghiên cứu nào trên người Việt được đưa ra trong kho tư liệu này. Ở nước ngoài, có những nghiên cứu về hiệu ứng niềm tin lên hành vi kinh tế, ví dụ Block và Kramer (2009) ghi nhận người tiêu dùng có niềm tin mê tín mua sản phẩm theo số lượng được cho là may mắn, Wong và Yung (2005) ghi nhận nhiều người Trung Quốc chọn năm sinh con là năm Thìn với niềm tin mang lại vận may, Bourassa và Peng (1999) ghi nhận niềm tin vào số học ảnh hưởng giá bất động sản ở vùng có đông người gốc Hoa ở New Zealand. Đây là các nghiên cứu về niềm tin và hành vi, không phải về hiệu lực dự báo của hệ thống. Phạm vi dữ liệu là người tiêu dùng ở các nước và khu vực cụ thể, không suy ra cho người Việt khi chưa có nghiên cứu trên người Việt.

Hiệu ứng có thật sinh ra từ niềm tin

Niềm tin có thể đổi hành vi, và hành vi đổi kết quả. Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnĐó là hiệu ứng có thật, không phải bằng chứng rằng hệ thống đoán đúng. Ví dụ, nếu một người tin rằng năm nào đó không thuận để khởi sự, họ có thể trì hoãn, chuẩn bị kỹ hơn, hoặc chọn thời điểm khác, và kết quả có thể khác đi vì hành vi đã khác, không phải vì lá số đã đúng. Cách nói chính xác là: niềm tin vào hệ thống có thể tạo ra hiệu ứng hành vi, và hiệu ứng đó có thể quan sát được trong dữ liệu kinh tế, xã hội. Không nên gọi đó là hệ thống đoán đúng, cũng không nên phủ nhận hiệu ứng khi nó đã được ghi nhận.

Tách truyền thống khỏi dữ kiện

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnCần tách hai lớp khi đọc về nguồn gốc các hệ tính số mệnh. Lớp thứ nhất là dữ kiện lịch sử: văn bản nào có trước, ai chép lại, bản thảo nào còn, ghi chép của người hành nghề nói gì. Lớp thứ hai là truyền thống quy tác giả: chuyện tổ sư nhận được chỉ dạy, chuyện một vị tiên sinh đời Tống để lại bí quyết, chuyện một cuốn sách được cho là của người xưa. Lớp thứ hai có thể có giá trị văn hóa, nhưng không nên đặt ngang hàng với lớp thứ nhất trong cùng một câu khẳng định. Khi nói về nguồn gốc Tử Vi, Tử Bình, Thái Ất, điều có thể nói chắc là chúng dùng can chi và lịch pháp làm đầu vào, và phần diễn giải vận mệnh là quy ước của từng phái. Điều chưa thể nói chắc là ai đã nghĩ ra chúng vào năm nào, vì bằng chứng còn thiếu.

Nguồn gốc Tử Bình: chỗ còn mỏng

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnTử Bình, theo cách hiểu phổ biến, gắn với tên một người được cho là sống vào đời Tống, nhưng đây là truyền thống quy tác giả, mức C, không phải sự kiện đã được chứng minh. Các nguồn học thuật trong kho hiện có mô tả bát tự như một nhánh của bói toán thời Thanh, nhưng chưa cung cấp một nghiên cứu riêng về nguồn gốc Tử Bình với niên đại cụ thể. Đây là chỗ cần thêm nguồn từ kho kiến thức, đối chiếu theo quy tắc 11 tới 15. Khi chưa có nguồn, nên viết dè dặt hoặc bỏ, không nâng truyền thuyết thành sự kiện.

Kết luận: giữ câu hỏi mở ở chỗ bằng chứng còn thiếu

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnCác hệ tính số mệnh bằng can chi có lịch sử hình thành cụ thể, gắn với lịch pháp và thiên văn cổ, và được mô tả trong các công trình sử học khoa học như của Ho Peng Yoke (2003), Smith (1991), Needham và Wang Ling (1959), Lackner (2018). Phần tính toán có thật, phần diễn giải vận mệnh là quy ước của từng phái. Các chuyện tổ sư như Trần Đoàn là truyền thống quy tác giả, mức C, không phải dữ kiện đã được chứng minh. Chỗ bằng chứng còn thiếu, đặc biệt về nguồn gốc Tử Vi và Tử Bình ở Việt Nam, cần được nói rõ là chưa đủ dữ liệu, thay vì lấp bằng suy đoán.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Các hệ Tử Vi, Bát Tự, Thái Ất có nguồn gốc từ đâu theo sử học khoa học?

Theo các công trình sử học khoa học như Ho Peng Yoke (2003), Smith (1991), Needham và Wang Ling (1959), Lackner (2018), chúng là những kỹ thuật tính toán dựng trên nền lịch can chi và thiên văn cổ, hình thành và biến đổi qua nhiều thế kỷ, không phải mặc khải. Phần tính toán có thật, phần diễn giải vận mệnh là quy ước của từng phái.

Chuyện tổ sư như Trần Đoàn có được xem là sự kiện lịch sử không?

Không. Đó là truyền thống quy tác giả, mức C của phân tầng chứng cứ: truyền thống quy cho một cá nhân, nhưng nghiên cứu hiện đại không coi đó là đã chứng minh. Cần tách lớp truyền thống này khỏi dữ kiện lịch sử.

Có nghiên cứu nào về nguồn gốc Tử Vi ở Việt Nam chưa?

Trong kho tư liệu hiện có, chưa có nghiên cứu học thuật riêng về nguồn gốc Tử Vi ở Việt Nam, cũng chưa có nghiên cứu riêng về các phái Tử Vi Việt như Tân Biên. Đây là chỗ bằng chứng còn thiếu, cần nói rõ là chưa đủ dữ liệu.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ng 2010 value of superstitions
  2. le duc hanh 2008 cung sao giai han dbbb
  3. dumoutier 1904 rituel funeraire annamites
  4. balliett 1908 philosophy of numbers
  5. mayer 2020 astrology science precarious relationship
  6. jordan 1999 gods ghosts ancestors taiwanese
  7. hon 2019 sep chinese philosophy change yijing
  8. ptolemy 1822 tetrabiblos ashmand
  9. phan ke binh 1915 viet nam phong tuc
  10. malinowski 1925 magic science religion
  11. tran dinh hang 2015 vang ma yeu to nguon coi
  12. diguet 1906 les annamites societe coutumes religions
#TửVi#BátTự#TháiẤt#CanChi#SửHọcKhoaHọc#HoPengYoke#RichardSmith#Needham