
TL;DR: Cúng đất đai, tạ đất cuối năm theo tục truyền thống thường được làm ngoài trời, tại sân hoặc khoảng đất trống trước nhà, vì lễ dâng lên thần Thổ Công và các vị thần cai quản đất đai. Gia đình không có sân vẫn có thể lập lễ trong nhà, miễn chỗ cúng sạch sẽ, trang nghiêm. Số chén chè không có quy định cố định, mỗi vùng mỗi nhà sắm khác nhau, thường là mâm xôi, gà luộc, trầu cau, hương hoa, rượu trà.
Cúng đất đai, tạ đất cuối năm là gì?
Cúng đất đai, còn gọi là lễ tạ đất, là nghi lễ dân gian dâng lễ tạ ơn các vị thần cai quản đất đai, nhà cửa, bếp núc, cầu mong bình an và tài lộc cho năm mới[1]. Lễ thường được làm vào dịp cuối năm âm lịch, sau rằm tháng Chạp và trước Tết Nguyên Đán, có nhà chọn làm chung với lễ cúng ông Táo ngày 23 tháng Chạp hoặc lễ tất niên[1].
Tục này gắn với tín ngưỡng thờ Thổ Công, vị thần cai quản đất đai của mỗi gia đình, theo câu “Đất có thổ công, sông có hà bá”[1]. Người ta tin rằng trong năm qua các vị thần đã che chở cho gia đình, nên cuối năm phải làm lễ tạ ơn[1].
Vì sao có nơi cúng đất tháng hai, có nơi cúng tháng tám?
Không phải địa phương nào cũng cúng đất vào cuối năm. Ở Huế, tục cúng đất có hai mùa: tháng hai âm lịch và tháng tám âm lịch[2][3]. Tháng hai là lễ cúng thần linh và những người “chủ cũ” của mảnh đất, xin phù hộ cho người đang ở được yên ổn làm ăn; tháng tám là lễ tạ ơn thổ thần đã phù trì[3]. Theo lời cha của tác giả Phi Tân, đất kinh kỳ mới cúng tháng hai, còn đất làng quê cúng tháng tám; tác giả đoán là vì tháng Chạp, tháng Giêng nhà nông đã tốn nhiều tiền lo Tết, không còn sức sắm lễ cúng đất vào tháng hai[2].
Sách Về Huế ăn cơm của Phi Tân, được báo Thanh Niên trích đăng, tả cảnh làng quê xứ Huế: tháng tám âm lịch mùa vụ vừa xong, lúa vừa cất lên tra, nông dân gác nông cụ và thong thả lo cúng đất đai[2]. Mâm cúng đất ở Huế không thể thiếu mấy dĩa xôi, và thường có cua, vì cua tháng tám ngon nhất khi nước mới tràn về phá Tam Giang[2].
Lễ cúng đất ở Huế có khi thiết ba bàn Thượng, Trung, Hạ: bàn Thượng cúng xôi, gà trống luộc nguyên con với lòng, huyết; bàn Trung cúng gà mái nguyên con, cua, trứng, thịt luộc; bàn Hạ cúng cơm cộ, xôi chè, khoai sắn, hạt nổ, cá vụn nướng, mắm nêm, rau luộc[3]. Nhiều nhà giản lược còn hai bàn Thượng, Hạ hoặc một bàn, “tùy gia phương tiện”, lễ phẩm có gì cúng nấy, cốt ở lòng thành[3].
Cúng tạ đất cuối năm nên cúng trong nhà hay ngoài trời?
Theo tục truyền thống, lễ tạ đất cuối năm thường được thực hiện ngoài trời, tại sân hoặc khu đất trống trước nhà[1]. Lý do là lễ dâng lên thần Thổ Công và các vị thần cai quản đất đai, nên không gian cúng gắn với đất trời bên ngoài. Nhà không có điều kiện cúng ngoài trời thì có thể làm lễ trong nhà[1]; nhà chung cư không có sân thường rơi vào trường hợp này.
Khi cúng trong nhà, cần chọn nơi sạch sẽ, thoáng mát, có không gian rộng rãi để bày mâm lễ; lễ vật chuẩn bị đầy đủ, trang trọng như khi cúng ngoài trời; giữ thái độ thành kính khi làm nghi thức[1].
Lễ tạ đất cuối năm gồm những gì?
Mâm lễ cúng tạ đất cuối năm không nhất thiết giống nhau ở mọi gia đình, mà điều chỉnh theo điều kiện kinh tế, văn hóa vùng miền và tín ngưỡng cá nhân[1]. Dù khác nhau, các lễ vật thường thấy gồm hương, hoa, đèn nến; xôi và gà luộc; rượu, nước trắng và trà; trái cây; bánh tét hoặc bánh chưng; trầu cau; giấy tiền vàng mã[1].
| Vùng | Nét chính trong mâm lễ tạ đất |
|---|---|
| Miền Bắc | Xôi, gà luộc, bánh chưng, rượu, chè, trái cây theo mùa[1] |
| Miền Trung | Giản dị hơn: xôi, bánh tét, heo quay hoặc gà luộc, rượu[1] |
| Miền Nam | Mâm phong phú: bánh tét, trái cây ngũ quả, heo quay, món đặc trưng địa phương[1] |
| Huế (lễ cúng đất tháng hai, tháng tám) | Xôi, gà trống, gà mái, cua, trứng, thịt luộc, xôi chè, khoai sắn, cá vụn nướng, mắm nêm, rau luộc, trầu cau, rượu, hoa quả[3]; có nhà làm chiếc xà lẹt bằng bẹ chuối đựng rau lang, cá khô, mắm nêm treo ngoài hàng rào sau lễ[2] |
Mấy chén chè trong mâm cúng tạ đất?
Không có quy định cố định về số chén chè trong mâm cúng tạ đất. Bài hướng dẫn lễ vật của VOH chỉ kể “chè” trong mâm cúng miền Bắc, không nêu số chén[1]. Số chén tùy theo mâm lễ lớn hay nhỏ, tùy phong tục từng nhà và vùng miền.
Văn khấn tạ đất gồm những phần nào?
Văn khấn lễ tạ đất cuối năm thường có hai phần: phần khấn ngoài sân dâng lên Hoàng Thiên, Hậu Thổ, chư vị Tôn thần, Ngài Đông Trù Tư mệnh Táo Phủ Thần quân, Ngài Bản gia Thổ Địa Long Mạch Tôn thần, các Ngài Ngũ Phương, Ngũ Thổ, Phúc Đức Tôn thần và các vị Tôn thần cai quản trong khu vực; phần khấn gia tiên dâng lên tổ tiên dòng họ[1]. Nội dung chính là tạ ơn các Ngài đã che chở trong năm qua và cầu xin phù hộ cho năm mới mạnh khỏe, an khang, công việc thuận lợi[1].
Văn khấn có thể tùy chỉnh theo phong tục vùng miền, tín ngưỡng hoặc lời khấn của từng gia đình[1].
Những điểm cần lưu ý khi làm lễ tạ đất
- Chọn ngày: không có ngày cố định, thường làm trong tháng Chạp sau rằm, có thể kết hợp với cúng ông Táo hoặc tất niên[1].
- Chọn chỗ cúng: ưu tiên ngoài trời; nếu trong nhà phải sạch sẽ, thoáng, trang nghiêm[1].
- Sắm lễ: tùy điều kiện, không cần cầu kỳ, nhưng nên có hương hoa, xôi gà, trầu cau, rượu trà[1].
- Thái độ: thành kính khi làm nghi thức, giữ không khí trang trọng, ấm cúng[1].
Gợi ý của Nhật Nguyệt: ở chung cư, có thể bày một bàn nhỏ ở chỗ thoáng trong nhà; hóa vàng thì làm ở nơi tòa nhà cho phép, dùng chậu kim loại, để tro nguội hẳn rồi mới dọn.
