Dịch Mã là gì và tra theo tam hợp như thế nào?
Dịch Mã là thần sát chỉ sự di chuyển, đổi chỗ, bận rộn, thường được tra theo tam hợp của chi gốc. Công thức quen thuộc: Thân Tý Thìn thì mã ở Dần, Dần Ngọ Tuất thì mã ở Thân, Tỵ Dậu Sửu thì mã ở Hợi, Hợi Mão Mùi thì mã ở Tỵ. Nói cách khác, chi gốc và chi Mã luôn cách nhau một vị trí xung trong vòng tam hợp, và Mã luôn rơi vào một trong bốn chi Dần, Thân, Tỵ, Hợi.

Cách gọi tên có nhiều biến thể. Sách xưa thường dùng chữ Mã, Dịch Mã, Thiên Mã, Trạch Mã. Trong Tử Vi, sao này được gọi là Thiên Mã và an theo chi năm sinh. Trong các sách mệnh lý Bát Tự, Mã và Thiên Mã lại là hai khái niệm khác nhau, nên Mã thường được gọi là Dịch Mã để tránh lẫn.
Về nguồn gốc hình tượng, thời xưa ngựa là phương tiện giao thông và truyền văn thư của các cơ quan nhà nước, nên gọi là Dịch Mã. Hiệp Kỷ Biện Phương Thư ghi Dịch Mã tháng Giêng khởi ở Thân, nghịch hành bốn cung Tứ Mạnh là Thân, Tỵ, Dần, Hợi; đến giữa tháng Chạp thì Dần là Công Tào, Thân là Truyền Tống, Hợi là Thiên Môn, Tỵ là Địa Hộ, đều là tượng đường sá, nên Mã gắn liền với đường sá.
Bảng 12 chi gốc ra chi Dịch Mã
Bảng dưới là kết quả tra theo lõi tính, đối chiếu từng ô với Uyên Hải Tử Bình mục Luận Dịch Mã và bài Dịch Mã và Lộc Mã. Hàm thienMaViTri của lõi Tử Vi cho cùng bảng, nên chỉ cần dùng chung một hàm chứ không viết hàm thứ hai.
| Chi gốc | Tam hợp | Chi Dịch Mã |
|---|---|---|
| Tý | Thân Tý Thìn | Dần |
| Sửu | Tỵ Dậu Sửu | Hợi |
| Dần | Dần Ngọ Tuất | Thân |
| Mão | Hợi Mão Mùi | Tỵ |
| Thìn | Thân Tý Thìn | Dần |
| Tỵ | Tỵ Dậu Sửu | Hợi |
| Ngọ | Dần Ngọ Tuất | Thân |
| Mùi | Hợi Mão Mùi | Tỵ |
| Thân | Thân Tý Thìn | Dần |
| Dậu | Tỵ Dậu Sửu | Hợi |
| Tuất | Dần Ngọ Tuất | Thân |
| Hợi | Hợi Mão Mùi | Tỵ |
Vì cùng một tam hợp thì cùng một chi Mã, mười hai chi gốc chỉ cho ra bốn chi Mã. Đây là lý do bảng tra chỉ có bốn giá trị, và cũng là lý do không nên viết hàm thứ hai cho Tử Vi: hàm thienMaViTri trả về đúng bốn giá trị ấy.
Vì sao Mã luôn rơi vào Dần Thân Tỵ Hợi?
Lý Hư Trung gọi Dịch Mã là Dịch cư Bệnh Phương, vì Mã nằm ở bốn góc Dần, Thân, Tỵ, Hợi. Dần là vị trí Thủy bệnh, Thân là vị trí Hỏa bệnh, Tỵ là vị trí Mộc bệnh, Hợi là vị trí Kim bệnh. Nói theo vòng Trường Sinh của cục, bốn chi này là chỗ xung với chữ Trường Sinh của cục, nên cổ nhân gọi là đất bệnh. Chữ Dịch trong Dịch Mã vì thế được hiểu là Phục Dịch, Dịch Vụ, và cũng được hiểu là Dịch Bệnh.
Đối chiếu với bảng trên: cục Thân Tý Thìn lấy Thủy làm gốc, Trường Sinh của Thủy ở Thân, xung với Thân là Dần, nên Mã ở Dần. Cục Dần Ngọ Tuất lấy Hỏa làm gốc, Trường Sinh của Hỏa ở Dần, xung với Dần là Thân, nên Mã ở Thân. Cục Tỵ Dậu Sửu lấy Kim làm gốc, Trường Sinh của Kim ở Tỵ, xung với Tỵ là Hợi, nên Mã ở Hợi. Cục Hợi Mão Mùi lấy Mộc làm gốc, Trường Sinh của Mộc ở Hợi, xung với Hợi là Tỵ, nên Mã ở Tỵ. Bốn chi Dần Thân Tỵ Hợi là bốn cung Tứ Mạnh, cũng là bốn chi xung với chữ Trường Sinh của cục, nên Mã luôn rơi vào đó.
Lấy chi năm hay chi ngày làm gốc?
Đây là chỗ các phái không thống nhất. Tam Mệnh Thông Hội cho phép dùng cả hai: lấy chi năm hoặc chi ngày làm gốc đều được. Tùy theo phương pháp luận giải của mỗi trường phái, một vài cuốn sách mệnh lý Bát Tự cũng nêu rõ rằng khi an sao này, người ta có thể chọn chi năm hoặc chọn chi ngày. Phần lớn tài liệu nhập môn lấy chi năm làm gốc vì đó là cách an quen thuộc và dễ tra. Một số phái thiên về chi ngày vì cho rằng chi ngày gần Nhật Chủ hơn, phản ánh vận động của bản thân chính xác hơn.
Cách xử lý thực dụng là tra cả hai gốc rồi ghi nhận cả hai vị trí Mã nếu chúng khác nhau. Khi hai gốc cho ra hai chi Mã khác nhau, người luận cần nói rõ mình đang theo quy ước nào, thay vì lặng lẽ chọn một bên rồi trình bày như thể chỉ có một cách.
Mã nói gì và không nói gì?
Mã nói về sự di chuyển, đổi chỗ, bận rộn. Tính chất cốt lõi của Mã là động, là hoạt động, là bôn ba. Trong Tử Vi, Mã mang hành Hỏa, mà Hỏa thì viêm thượng, tính gấp vội, nóng, bốc lên trên, nên Mã cũng là động. Sách xưa còn nói Càn là Mã, Càn có tính cứng, mạnh, hoạt động nhiều, đó cũng là tính cách của Mã. Vì vậy Mã có tính mạnh mẽ, kiên cường, ưa hoạt động.
Mã không nói gì về cát hung tuyệt đối. Mã không tự nó tốt hay xấu, nó chỉ khuếch đại xu hướng vận động. Mã đứng một mình thì chỉ thấy động, chưa thấy thành quả. Một cách nói dân gian quen thuộc là Mã không Lộc thì chạy hoài không có đích. Sách cũ cũng chép rằng Mã khi bị hợp chặt coi như không có, còn khi bị xung mất thì ngày đi nghìn dặm; điều này cho thấy bản chất của Mã chịu ảnh hưởng mạnh từ những yếu tố khác.
Mã cũng không nói gì về sức khỏe hay tài chính theo nghĩa khẳng định. Trong Tam Mệnh Thông Hội Toàn Văn có câu rằng ngũ hành sợ ngang ngược thái quá, và Mã nhiều thì bệnh; song đó chỉ là nhận định về sự quá mức, chứ không phải kết luận cố định dành cho mọi lá số có nhiều Mã.
Các cách ghép thường gặp
Phần này chỉ nêu tên cách, nghĩa sách gán, và nguồn, không đi sâu luận giải.
- Lộc Mã giao trì: Mã gặp Lộc Tồn hoặc Hóa Lộc. Sách xưa ghi đây là cách cục tốt, báo hiệu tiền bạc đến nhanh, sự nghiệp thăng tiến, đặc biệt khi đương số có di chuyển, thay đổi công việc hoặc xuất ngoại. Một cách luận cho rằng Thiên Mã gắn với sự vận động của sự nghiệp và tài lộc.
- Mã gặp xung: Mã bị xung thì động mạnh hơn. Sách xưa ghi Mã bị xung mất thì ngày đi nghìn dặm. Một cách luận cho rằng Mã Tinh là yếu tố then chốt trong Bát Tự.
- Mã lâm không vong: Mã gặp Không Vong. Tam Mệnh Thông Hội ghi trong Tứ Trụ có Mã mà trong Mệnh không gặp Không Vong, Phá bại, Giao, Thoái, Phục Thần thì nhất định vinh hoa phú quý. Nguồn: bài Dịch Mã và Lộc Mã trên Lý số Việt Nam.
Các cách ghép khác như Mã đầu đeo tiễn, Cửu Địa Mã, Mã nhiều bệnh cũng có sách nhắc, nhưng mỗi cách có điều kiện riêng và không thuộc phạm vi bài này.
Mã có cần bị xung mới động không?
Đây là chỗ các phái không thống nhất. Một quan điểm cho rằng Mã phải bị xung mới thật sự động, vì Mã vốn là ngựa trạm, phải có cái thúc mới chạy. Quan điểm khác cho rằng Mã tự thân đã là động, xung chỉ làm động mạnh hơn chứ không phải điều kiện bắt buộc. Sách xưa ghi Mã bị hợp chặt thì có cũng như không, còn bị xung mất thì ngày đi nghìn dặm, hàm ý xung làm Mã mạnh lên, nhưng không nói Mã không xung thì không động.
Cách hiểu dung hòa là Mã luôn mang nghĩa động, còn xung là yếu tố khuếch đại. Khi luận, nên nói rõ đang theo quan điểm nào thay vì khẳng định chỉ có một cách.
Thiên Mã của Tử Vi cùng vị trí nhưng đọc theo cung
Thiên Mã của Tử Vi cùng vị trí với Dịch Mã của Bát Tự, đều nằm trong bốn cung Dần, Thân, Tỵ, Hợi, gọi là tứ Mã địa. Hàm thienMaViTri của lõi Tử Vi cho cùng bảng với bảng tra Bát Tự ở trên, nên dùng chung một hàm là đủ.
Điểm khác là cách đọc. Trong Tử Vi, Mã được đọc theo cung mà nó tọa thủ, phối hợp với các sao trong tam phương tứ chính của cung đó. Mã ở cung Mệnh khác với Mã ở cung Thiên Di, khác với Mã ở cung Tử Tức. Trong Bát Tự, Mã được đọc theo trụ mà nó xuất hiện, phối hợp với can chi và thập thần của trụ đó. Vì vậy cùng một vị trí nhưng ý nghĩa triển khai khác nhau, và không nên lấy cách đọc của hệ này áp thẳng sang hệ kia.
Một điểm nữa là Tử Vi an Mã theo chi năm sinh, còn Bát Tự có thể an theo chi năm hoặc chi ngày. Khi đối chiếu hai hệ, cần ghi rõ gốc đang dùng.
Ứng dụng và giới hạn
Ứng dụng chính của Dịch Mã là nhận diện xu hướng vận động trong lá số: dễ đổi chỗ, đổi việc, đi xa, gắn với công việc cần di chuyển nhiều. Mã cũng thường được dùng để luận về thời điểm có biến động, như khi đại vận hoặc lưu niên chạm vào chi Mã.
Giới hạn cần nhớ: Mã không quyết định cát hung một mình. Mã chỉ là một thần sát, phải đặt trong tổng thể Tứ Trụ hoặc trong tổng thể lá số Tử Vi mới có nghĩa. Một Mã vượng và được nâng đỡ có thể mang lại nhanh nhẹn, ứng biến, danh vọng; một Mã suy yếu, gặp sao xấu hoặc bị xung khắc mạnh có thể dẫn đến phiêu bạt, lo toan. Nhưng đây là các xu hướng, không phải kết luận cố định về vận mệnh, tài chính hay sức khỏe của một người cụ thể.
