
TL;DR: Tướng quân tiễn, Diêm vương quan, Dạ đề quan là tên các "quan sát" của trẻ nhỏ, tức những giờ sinh sách mệnh lý cũ cho là khiến trẻ hay ốm, hay khóc. Tam mệnh thông hội của Vạn Dân Anh chỉ nêu tên Tướng quân tiễn và Diêm vương quan rồi nói thuyết ấy phần nhiều không ứng nghiệm nên không chép; Dạ đề quan không có trong sách ấy. Bảng giờ theo mùa sinh hiện nay lấy từ sách Tử Vi tiếng Việt như Tử Vi đẩu số tân biên. Đây là quy tắc của phái thuật số, chưa được kiểm chứng.
Tướng quân tiễn, Diêm vương quan, Dạ đề quan là gì?
Tướng quân tiễn (將軍箭), Diêm vương quan (閻王關) và Dạ đề quan (夜啼關) là tên ba "quan sát" của trẻ nhỏ trong sách mệnh lý cũ, tức những giờ sinh bị cho là khiến đứa trẻ hay ốm, hay khóc, khó nuôi. Ba tên này không cùng một nguồn. Tam mệnh thông hội có nêu tên Tướng quân tiễn và Diêm vương quan nhưng không chép cách tính, còn Dạ đề quan thì không có trong sách ấy[1]. Bảng giờ và lời mô tả người Việt hay gặp ngày nay đến từ sách Tử Vi tiếng Việt, như Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang, nơi chúng được gọi là giờ Tướng Quân, giờ Diêm Vương, giờ Dạ Đề.
Đây là quy tắc của các phái thuật số, chưa được kiểm chứng, không phải tri thức y học. Trẻ hay khóc, hay ốm thì cần bác sĩ thăm khám.
Tam mệnh thông hội nói gì về quan sát trẻ nhỏ?
Tam mệnh thông hội (三命通會) là bộ sách mệnh lý Tử Bình đời Minh, 12 quyển, do Vạn Dân Anh (萬民英) soạn, hiện còn trong Tứ khố toàn thư[1]. Mục Luận tiểu nhi (論小兒) ở quyển 7 ví việc xem mệnh trẻ nhỏ như trồng cây, lấy năm làm gốc, tháng làm mầm, ngày làm hoa, giờ làm quả: "人之八字以年為根月為苗日為花時為菓"[1].
Về quan sát, sách giữ lối của Tử Bình: "夫關者何也即偏官為關偏財為煞專以日干為主取生成之數斷之"[1]. Nghĩa là quan chính là thiên quan, sát là thiên tài, đều lấy nhật can làm chủ rồi dùng số sinh thành để đoán tuổi gặp quan. Sách nêu ví dụ "甲日見庚為九歲關"[1], tức người ngày Giáp gặp Canh là quan chín tuổi.
Ngay sau đó, sách kể tên một loạt quan sát của phái khác rồi gạt đi: "若夫百日關鐵蛇關鷄飛關閻王關深水關鬼門關四季關四柱關将軍箭其説見百中經可考然多不驗故不錄"[1]. Tạm dịch: còn như Bách nhật quan, Thiết xà quan, Kê phi quan, Diêm vương quan, Thâm thủy quan, Quỷ môn quan, Tứ quý quan, Tứ trụ quan, Tướng quân tiễn, thuyết ấy có trong Bách trung kinh, tra được, nhưng phần nhiều không ứng nghiệm nên không chép. Danh sách này không có Dạ đề quan. Trong Tam mệnh thông hội, "dạ đề" (khóc đêm) chỉ xuất hiện ở mục bàn về bệnh tật, như một chứng của trẻ nhỏ khi can Giáp, Ất gặp nhiều Canh, Tân, Thân, Dậu: "小兒主急慢驚風夜啼"[1].
Tinh học đại thành nói gì về quan sát trẻ nhỏ?
Một đoạn hỏi đáp khác về quan sát trẻ nhỏ nằm ở quyển 4 của Tinh học đại thành (星學大成), bộ sách về phép xem sao Ngũ tinh (thất chính tứ dư) cũng mang tên Vạn Dân Anh[2]. Hỏi "小兒關煞何以取之", sách đáp: "前後有煞命在其中三方拱夾亦是煞門原守如是更有加盤若無救援十死九難"[2]. Tạm dịch: trước sau có sát, cung mệnh nằm giữa, hay ba phương kẹp lại, cũng là cửa sát; nếu không có cứu giải thì mười phần chết chín.
Sách nói thêm một loại quan nữa: "春命在酉夏命子看秋嫌卯位冬怕午安此上安命乃為災難"[2], tức sinh mùa xuân mà cung mệnh ở Dậu, mùa hạ ở Tý, mùa thu ở Mão, mùa đông ở Ngọ thì là tai nạn. Lời bàn kèm theo viết "但忌三嵗"[2], chỉ kỵ trong ba tuổi đầu. Đây là luật theo vị trí cung mệnh trên lá số Ngũ tinh, không gắn với tên Tướng quân tiễn, Diêm vương quan hay Dạ đề quan.
Tướng quân tiễn là gì và cách tính ra sao?
Tam mệnh thông hội chỉ nêu tên Tướng quân tiễn mà không chép cách tính[1]. Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang (mục 21.1.3) gọi là giờ Tướng Quân và viết: "Trẻ hay đau ốm nhất là hay mắc bệnh sài, khóc rất lớn và rất lâu, nhưng cũng không đáng lo ngại." Sách tính theo mùa sinh, mỗi mùa ba giờ: mùa Xuân giờ Thìn, Tuất, Dậu; mùa Hạ giờ Tý, Mão, Mùi; mùa Thu giờ Dần, Ngọ, Sửu; mùa Đông giờ Thân, Tỵ, Hợi. Ví dụ của sách: trẻ sinh tháng hai, thuộc mùa Xuân, vào giờ Thìn là phạm giờ Tướng Quân.
Sách Tử Vi của Hà Lạc Dã Phu Việt Viêm Tử chép cùng bảng ấy, mô tả trẻ phạm giờ Tướng Quân "hay khóc thật lâu có khi khóc cả tháng mất hết tiếng", và ghi tục dân gian: "phong tục ta coi phạm vía phải vái".
Diêm vương quan là gì và khác gì với Tướng quân tiễn?
Diêm vương quan cũng chỉ được Tam mệnh thông hội nêu tên, kèm lời phần nhiều không ứng nghiệm[1]. Tử Vi đẩu số tân biên (mục 21.1.4) gọi là giờ Diêm Vương, mô tả "Trẻ hay hoảng sợ, giật mình, trợn mắt, lè lưỡi", và cũng tính theo mùa sinh: mùa Xuân giờ Sửu, Mùi; mùa Hạ giờ Thìn, Tuất; mùa Thu giờ Tý, Ngọ; mùa Đông giờ Mão, Dậu. Ví dụ của sách: trẻ sinh tháng năm, thuộc mùa Hạ, vào giờ Thìn là phạm giờ Diêm Vương.
Hai giờ này tính cùng một kiểu, chỉ khác bảng và khác lời mô tả: giờ Tướng Quân ứng với khóc to, khóc lâu, giờ Diêm Vương ứng với hoảng sợ, giật mình. Tên gọi đáng sợ, nhưng lời của sách không nói giờ Diêm Vương nguy đến tính mạng.
Dạ đề quan là gì và tính thế nào?
Dạ đề quan không có trong danh sách quan sát của Tam mệnh thông hội[1]. "Dạ đề" (夜啼) nghĩa là khóc đêm. Tử Vi đẩu số tân biên (mục 21.1.5) gọi là giờ Dạ Đề, chỉ ghi "Trẻ hay khóc về ban đêm", và mỗi mùa có một giờ: mùa Xuân giờ Ngọ, mùa Hạ giờ Dậu, mùa Thu giờ Tý, mùa Đông giờ Mão. Sách của Việt Viêm Tử chép cùng bảng ấy.
Giờ Quan Sát khác ba giờ trên thế nào?
Trong cùng chương, Tử Vi đẩu số tân biên đặt giờ Quan Sát (mục 21.1.2) lên trước, với lời nặng hơn: "Trẻ hay đau yếu, nếu không cũng mắc tai nạn rất đáng lo ngại. Trẻ sinh phạm giờ Quan sát, nếu qua khỏi được mọi bệnh nạn, sau lớn lên rất gan góc và ngang tàng." Giờ Quan Sát tính theo tháng sinh chứ không theo mùa: tháng giêng giờ Tỵ, tháng hai giờ Ngọ, tháng ba giờ Mùi, mỗi tháng tiến một chi, tới tháng chạp giờ Thìn. Ví dụ của sách là trẻ sinh tháng tư giờ Thân.
Một bài ca dân gian khác về giờ Quan Sát, được Lê Văn Sửu dẫn, lại đếm ngược: tháng giêng giờ Tỵ, tháng hai giờ Thìn, tháng ba giờ Mão, tháng tư giờ Dần. Cùng tháng tư, một bên là giờ Thân, một bên là giờ Dần.
Các sách có thống nhất về các giờ này không?
Không. Tam mệnh thông hội xét quan sát theo nhật can và thiên quan, còn sách Tử Vi tiếng Việt xét theo mùa, tháng và giờ sinh; hai lối không suy ra được từ nhau. Bảng dưới đây đặt các nguồn cạnh nhau:
| Tên | Tam mệnh thông hội | Tử Vi đẩu số tân biên: cách tính | Lời mô tả của Tử Vi đẩu số tân biên |
|---|---|---|---|
| Tướng quân tiễn (giờ Tướng Quân) | Nêu tên, không chép cách tính | Theo mùa, ba giờ mỗi mùa | Hay ốm, khóc rất lớn và rất lâu, không đáng lo ngại |
| Diêm vương quan (giờ Diêm Vương) | Nêu tên, không chép cách tính | Theo mùa, hai giờ mỗi mùa | Hay hoảng sợ, giật mình |
| Dạ đề quan (giờ Dạ Đề) | Không có | Theo mùa, một giờ mỗi mùa | Hay khóc về ban đêm |
| Giờ Quan Sát | Không có giờ mang tên này | Theo tháng, một giờ mỗi tháng | Hay đau yếu, tai nạn rất đáng lo ngại |
Vì sao người xưa quan tâm đến quan sát trẻ nhỏ?
Trong xã hội xưa, trẻ sơ sinh và trẻ nhỏ mất sớm nhiều. Bảng giờ sinh cho người lớn một cách gọi tên nỗi lo ấy, và đi kèm tục lệ, như tục "phạm vía phải vái" mà Việt Viêm Tử ghi lại. Chưa có nghiên cứu nào cho thấy giờ sinh liên quan tới việc trẻ khóc đêm hay hay ốm; khóc đêm có thể do đói, đầy hơi, mọc răng, đổi chỗ ngủ hay một bệnh cần khám.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: nên đọc các bảng giờ này thế nào?
Gợi ý của Nhật Nguyệt: đọc các bảng này như tư liệu về cách người xưa gọi tên nỗi lo nuôi con, và luôn xem một tên quan sát đi kèm với sách nào, vì cùng một tên mỗi sách tính một kiểu. Chính tác giả Tam mệnh thông hội cũng gạt các thuyết này đi vì phần nhiều không ứng nghiệm. Trẻ hay khóc đêm, hay ốm thì đưa đi khám bác sĩ nhi; giờ sinh không phải căn cứ để chẩn đoán.
