Nhật Nguyệt

Tri thức / Đông phương / Kinh Dịch

Kinh Dịch

Hà Đồ và Lạc Thư là gì: cách sắp số, nối vào bát quái Tiên Thiên Hậu Thiên và cửu tinh

Chia sẻ:
東
TL;DR: Hà Đồ là đồ hình 55 chấm đen trắng, sắp theo từng cặp số sinh và số thành: 1 và 6 là Thủy ở Bắc, 2 và 7 là Hỏa ở Nam, 3 và 8 là Mộc ở Đông, 4 và 9 là Kim ở Tây, 5 và 10 là Thổ ở giữa. Lạc Thư là ô vuông 3x3 chứa các số 1 tới 9, mọi hàng, mọi cột và hai đường chéo đều có tổng bằng 15. Theo lối truyền thống, Hà Đồ gắn với bát quái Tiên Thiên và chiều thuận, Lạc Thư gắn với bát quái Hậu Thiên và chiều nghịch; các con số của Lạc Thư cũng là nền của cửu tinh trong phong thủy. Cần phân biệt hai đồ hình này với Hà Lạc lý số, là phép đổi tứ trụ ra quẻ Dịch.

Hà Đồ và Lạc Thư là gì?

Hà Đồ và Lạc Thư là hai đồ hình cổ của truyền thống Dịch học, được xem như bản đồ sơ khai mô tả quy luật vận hành của trời đất. Hà Đồ gồm 55 chấm đen trắng, sắp thành từng cặp số theo năm phương và năm hành. Lạc Thư gồm chín số từ 1 tới 9 đặt vào một ô vuông 3x3, tạo thành ô vuông ma thuật bậc ba duy nhất theo nghĩa chuẩn, với mọi hàng, mọi cột và hai đường chéo đều có tổng bằng 15.

Hà Đồ: mỗi phương một cặp số cùng hành, số lẻ chấm trắng, số chẵn chấm đen.
Hà Đồ: mỗi phương một cặp số cùng hành, số lẻ chấm trắng, số chẵn chấm đen.

Hai đồ hình này thường đi đôi với nhau trong Dịch học, phong thủy, số thuật và cả những nghiên cứu về khoa học tự nhiên sơ khai của Trung Hoa cổ. Chúng cung cấp bộ số, hình tượng và quan hệ tương tác giữa các yếu tố cơ bản, làm nền cho việc tính toán và luận đoán về sau.

Hà Đồ sắp số sinh thành theo phương và hành thế nào?

Theo lối giải thích phổ biến, mỗi hành có một số sinh (dương, thuộc Trời) và một số thành (âm, thuộc Đất). Số sinh là con số khởi đầu cho sự hình thành hành đó, số thành là con số đánh dấu nó đã thành hình. Sách Kinh Dịch có chép: số 1 thuộc Trời khởi sinh Thủy, số 6 thuộc Đất hoàn tất Thủy; số 2 thuộc Đất hoàn tất Hỏa, số 7 thuộc Trời hoàn tất Hỏa; số 3 thuộc Trời khởi sinh Mộc, số 8 thuộc Đất hoàn tất Mộc; số 4 thuộc Đất hoàn tất Kim, số 9 thuộc Trời hoàn tất Kim; số 5 thuộc Trời khởi sinh Thổ, số 10 thuộc Đất hoàn tất Thổ. Lối nói đó cho thấy Trời với Đất, Âm với Dương tác động qua lại, nhờ vậy mà năm hành được tạo nên.

Bảng dưới đây tổng hợp cách sắp cặp số sinh thành của Hà Đồ theo phương và hành:

PhươngHànhSố sinhSố thànhCặp số
BắcThủy1 (Trời)6 (Đất)1 và 6
NamHỏa2 (Đất)7 (Trời)2 và 7
ĐôngMộc3 (Trời)8 (Đất)3 và 8
TâyKim4 (Đất)9 (Trời)4 và 9
GiữaThổ5 (Trời)10 (Đất)5 và 10

Cách nhớ nhanh: cặp số sinh thành luôn lệch nhau đúng 5 đơn vị, tức số sinh cộng 5 thành số thành. Các số lẻ 1, 3, 5, 7, 9 mang tính dương, các số chẵn 2, 4, 6, 8, 10 mang tính âm. Cách sắp này cũng cho thấy Hà Đồ đặt trọng tâm ở Trung cung với cặp 5 và 10, còn bốn hành kia toả ra bốn phương.

Lạc Thư là ô vuông 3x3 tổng mọi hàng bằng 15, cụ thể ra sao?

Lạc Thư đặt chín số 1 tới 9 vào một lưới 3x3 sao cho mọi hàng ngang, mọi cột dọc và cả hai đường chéo đều có tổng bằng 15. Đây là ô vuông ma thuật bậc ba chuẩn duy nhất, nghĩa là chỉ có một cách sắp duy nhất nếu không tính các phép quay và phản chiếu. Trong cách trình bày thường dùng của người Việt và người Trung Hoa, số 1 nằm ở dưới cùng và số 9 nằm ở trên cùng, vì bản đồ cổ đặt phương Nam ở trên và phương Bắc ở dưới.

492
357
816

Trong ô này, số 5 nằm ngay trung tâm. Bốn số chẵn 2, 4, 6, 8 nằm ở bốn góc, bốn số lẻ 1, 3, 7, 9 nằm ở bốn cạnh giữa, tạo thành một hình chữ thập quanh số 5. Một tính chất đáng chú ý: vì 5 ở giữa, tổng của hai ô đối xứng qua tâm luôn bằng 10, ví dụ 4 với 6, 9 với 1, 2 với 8, 3 với 7. Con số 10 này lại đúng bằng tổng cặp số sinh thành của Thổ trong Hà Đồ, tức 5 cộng 5.

Lạc Thư nối vào bát quái Hậu Thiên và cửu tinh như thế nào?

Theo cách gắn phổ biến, tám ô ngoài của Lạc Thư được đặt tương ứng với tám quẻ trong bát quái Hậu Thiên. Cách gắn này ăn khớp với hướng của bát quái Hậu Thiên: Khảm ở Bắc, Ly ở Nam, Chấn ở Đông, Đoài ở Tây, Càn ở Tây Bắc, Khôn ở Đông Nam, Cấn ở Đông Bắc, Tốn ở Đông Nam. Vì bản đồ cổ đặt Nam ở trên, số 9 nằm ở trên cùng ứng với Ly và hành Hỏa, số 1 nằm ở dưới cùng ứng với Khảm và hành Thủy.

Hậu Thiên bát quái: mỗi quái một hướng, một số Lạc Thư và một hành.
Hậu Thiên bát quái: mỗi quái một hướng, một số Lạc Thư và một hành.
Ô Lạc ThưSốQuẻ Hậu ThiênHướngHành
Trên trái4TốnĐông NamMộc
Trên giữa9LyNamHỏa
Trên phải2KhônTây NamThổ
Giữa trái3ChấnĐôngMộc
Trung tâm5Trung cungGiữaThổ
Giữa phải7ĐoàiTâyKim
Dưới trái8CấnĐông BắcThổ
Dưới giữa1KhảmBắcThủy
Dưới phải6CànTây BắcKim

Chính vì tám ô ngoài ứng với tám quẻ và số 5 ở giữa, Lạc Thư còn được gọi là Cửu Cung Đồ hay đồ chín cung. Trong phong thủy Huyền Không Phi Tinh, chín con số này được dùng làm tên của cửu tinh, còn vòng bay của các tinh dựa trên vị trí gốc trong Lạc Thư. Sách phong thủy có nhận xét: Hà Đồ với 55 điểm cho thấy ngũ hành cùng âm dương vận hành theo lẽ tương sinh, còn Lạc Thư với 9 số cho thấy thế giới sau khi trời đất đã định hình thì cân bằng và có trật tự.

Hà Đồ nối vào bát quái Tiên Thiên ra sao?

Theo truyền thuyết và lối giải thích quen thuộc, vua Phục Hi nhìn Hà Đồ mà lập ra bát quái Tiên Thiên và 64 quẻ. Cách gắn Hà Đồ với bát quái Tiên Thiên dựa trên cặp số sinh thành theo phương: cặp 1 và 6 ở Bắc ứng với Khôn, cặp 2 và 7 ở Nam ứng với Càn, cặp 3 và 8 ở Đông ứng với Ly, cặp 4 và 9 ở Tây ứng với Khảm. Đây là cách gắn phổ biến trong nhiều sách Dịch, tuy cũng có sách trình bày hơi khác ở chi tiết đối chiếu từng quẻ.

Một nguồn Dịch học dân gian Việt Nam còn đẩy cách đối chiếu xa hơn: cho rằng Hà Đồ sinh Tiên Thiên Bát Quái và đi theo chiều thuận, Lạc Thư sinh Hậu Thiên Bát Quái và đi theo chiều nghịch. Chiều thuận được giải thích là thuận chiều kim đồng hồ, âm dương không chống đối nhau, lấy tình thương và nhân nghĩa làm tiêu chuẩn. Chiều nghịch là ngược chiều kim đồng hồ, lấy mâu thuẫn và kình chống làm căn bản. Cách diễn giải này mang nặng màu sắc triết lý tu hành, không phải là cách duy nhất, và các sách khác có thể chỉ dừng ở việc đối chiếu con số với quẻ.

Vì sao nói Hà Đồ là Tiên Thiên, Lạc Thư là Hậu Thiên?

Cách nói này bắt nguồn từ chỗ Hà Đồ được cho là ra đời trước, gắn với thời Phục Hi và việc lập bát quái Tiên Thiên, còn Lạc Thư gắn với thời Đại Vũ trị thủy và việc lập Hồng Phạm Cửu Trù, rồi sau đó Văn Vương mới lập bát quái Hậu Thiên. Trong lối diễn giải triết lý, Hà Đồ được xem là biểu tượng của Tiên Thiên và Vô Vi, còn Lạc Thư là biểu tượng của Hậu Thiên và Hữu Vi.

Cần lưu ý đây là cách gán mang tính triết lý, không phải là một sự kiện lịch sử có thể kiểm chứng. Các trường phái khác nhau có thể nhấn mạnh khía cạnh khác nhau của hai đồ hình, có phái thiên về số thuật, có phái thiên về tu hành, có phái thiên về phong thủy. Người học nên biết rõ mình đang theo cách giải thích nào thay vì trộn lẫn các cách nói với nhau.

Huyền thoại Long Mã và rùa thần kể gì về hai đồ hình?

Truyền thuyết kể rằng đời vua Phục Hi, một con Long Mã hiện ra ở sông Hà, trên lưng mang một đồ hình, vì vậy gọi là Hà Đồ. Vua Phục Hi nhân đó mà lập ra bát quái Tiên Thiên và 64 quẻ. Còn Lạc Thư, theo Kinh Thư, được Trời ban cho vua Đại Vũ sau khi trị thủy thành công, và nhân đó vua sáng chế ra Hồng Phạm Cửu Trù, tức phép cai trị xã hội. Văn Vương nhân Lạc Thư mà lập bát quái Hậu Thiên.

Ở một dị bản khác, Lạc Thư hiện ra trên mai một con rùa thần nổi lên từ sông Lạc. Truyền thuyết này cũng gắn với chuyện vua Vũ trị thủy và việc hình thành các con số. Một tài liệu về Lạc Thư trên Wikipedia tiếng Anh cũng ghi lại dị bản rùa thần nổi lên từ sông Lạc với hình Lạc Thư trên mai, các chấm tròn biểu thị các số nguyên từ 1 tới 9 xếp trong lưới 3x3. Các dị bản không hoàn toàn thống nhất với nhau về con vật, dòng sông và vị vua, nên đây là chỗ cần trình bày như truyền thuyết chứ không phải sự kiện.

Vì sao đồ hình chỉ thấy rõ từ đời Tống và có chuyện gọi ngược tên?

Một điểm ít được nhắc trong các bài phổ biến: Hà Đồ và Lạc Thư như ta thấy ngày nay không phải là hình ảnh có từ thời Phục Hi hay Đại Vũ. Một nguồn ghi chép về Tử Vi cho rằng hai đồ hình này đã thất truyền từ trước khi Khổng Tử san định Kinh Dịch, và bản Hà Đồ, Lạc Thư ngày nay là do một người đời Hán tên Khổng An, cháu đời thứ mười hai của Khổng Tử, vẽ lại mà không rõ dựa vào đâu. Cách nói này phản ánh quan điểm cho rằng đồ hình hiện hành là sản phẩm của hậu thế.

Một nguồn khác về Tử Vi kinh nghiệm cũng nhắc tới tình trạng các đoạn trong Kinh Dịch mâu thuẫn nhau khi nói về nguồn gốc bát quái, khiến người đời sau phải đặt ra nhiều giả thuyết. Có thuyết cho Phục Hi quan sát tự nhiên mà vẽ ra, có thuyết cho ngài vẽ lại từ một bức đồ trên bờ sông Hà, lại có thuyết cho là từ hình trên mai rùa nổi lên ở sông Lạc.

Về chuyện gọi tên, giới nghiên cứu hiện đại thường nhắc rằng các đồ hình Hà Đồ và Lạc Thư chỉ thấy xuất hiện rõ ràng từ đời Tống, gắn với các tên như Trần Đoàn và Lưu Mục. Một điểm đáng lưu ý là Lưu Mục và Chu Hy có lúc gọi ngược tên hai đồ, nghĩa là đồ mà sách này gọi là Hà Đồ thì sách kia có thể gọi là Lạc Thư. Đây là chỗ các tài liệu không thống nhất, người đọc nên kiểm tra quy ước của từng sách trước khi đối chiếu.

Có thuyết cho rằng Hà Đồ Lạc Thư có gốc Việt cổ, nên hiểu thế nào?

Một số tác giả, tiêu biểu là hướng nghiên cứu trong sách Thuật số Lạc Thư, cho rằng bảng Lạc Thư cùng Cửu Cung và bát quái Hậu Thiên là của dân tộc Lạc Việt, ra đời trước năm 2357 trước Công nguyên, tức trước thời vua Nghiêu ở phương Bắc. Cổ sử Trung Hoa có đoạn chép rằng vào năm Mậu Thân đời vua Nghiêu, sứ giả của người Việt thường ở phương Nam đã tới kinh đô Bình Dương, dâng vua một con rùa thần, trên lưng khắc chữ Khao Đẩu ghi việc từ khi mở trời đất, và nhà vua sai người chép lại, đặt tên là Lịch Rùa. Từ đó nhóm tác giả này suy ra rằng lịch rùa của dân Việt Thường phải dùng tám quẻ Hậu Thiên của bảng Lạc Thư, và nghĩa gốc của từ Lạc Thư là sách của dân Lạc.

Đây là một giả thuyết của một số tác giả, không phải kết luận đã được giới nghiên cứu nói chung công nhận. Cách lập luận dựa nhiều vào việc suy diễn từ một đoạn cổ sử và vào việc gán nghĩa cho tên gọi, nên khi trình bày cần nói rõ đây là quan điểm của nhóm tác giả đó. Người đọc có thể ghi nhận như một hướng giải thích, không nên xem là sự thật lịch sử đã ngã ngũ.

Phân biệt Hà Đồ Lạc Thư với Hà Lạc lý số

Hà Lạc lý số là một môn riêng, dùng Hà Đồ và Lạc Thư làm nền số để đổi tứ trụ, tức năm tháng ngày giờ sinh, ra các quẻ Dịch, rồi luận đoán. Nó khác với việc chỉ đọc hai đồ hình như bản đồ số và hành. Một tài liệu Kinh Dịch mô tả Hà Lạc lý số là sự kết hợp giữa Hà Đồ, Lạc Thư và các nguyên lý Kinh Dịch, trong đó mỗi con số và mỗi vị trí trong hai đồ đều mang nghĩa về ngũ hành, âm dương và cung vị. Nếu chỉ quan tâm Hà Đồ và Lạc Thư như hai đồ hình cổ, ta không cần đi sâu vào phép đổi tứ trụ ra quẻ này.

Khi dùng Hà Đồ Lạc Thư cần lưu ý gì?

Thứ nhất, các sách không thống nhất ở một số chi tiết, đặc biệt là cách gắn Hà Đồ với bát quái Tiên Thiên và chuyện gọi ngược tên hai đồ giữa Lưu Mục và Chu Hy. Người học nên theo một quy ước rõ ràng và ghi rõ mình đang theo quy ước nào.

Thứ hai, không nên gán cho các con số hay đồ hình này một giá trị cát hung tuyệt đối. Cùng một con số có thể được luận theo nhiều cách khác nhau tùy trường phái và tùy ngữ cảnh. Các ứng dụng trong phong thủy, tử vi, Hà Lạc đều là hệ thống diễn giải, không phải là công thức cho ra kết quả cố định cho mọi người.

Thứ ba, cần phân biệt rõ giữa truyền thuyết, ghi chép lịch sử và giả thuyết nghiên cứu. Huyền thoại Long Mã và rùa thần thuộc lớp truyền thuyết; chuyện đồ hình chỉ thấy từ đời Tống thuộc lớp ghi chép lịch sử; còn thuyết gốc Việt cổ thuộc lớp giả thuyết của một số tác giả. Trộn ba lớp này với nhau sẽ dẫn tới những kết luận thiếu căn cứ.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Hà Đồ và Lạc Thư khác nhau ở điểm nào?

Hà Đồ gồm 55 chấm đen trắng sắp theo năm phương và năm hành, mỗi hành có một cặp số sinh và số thành lệch nhau 5 đơn vị, ví dụ 1 và 6 là Thủy ở Bắc, 2 và 7 là Hỏa ở Nam. Lạc Thư gồm chín số từ 1 tới 9 đặt trong ô vuông 3x3, mọi hàng, mọi cột và hai đường chéo đều có tổng bằng 15. Theo lối truyền thống, Hà Đồ gắn với bát quái Tiên Thiên và chiều thuận, Lạc Thư gắn với bát quái Hậu Thiên và chiều nghịch.

Vì sao ô vuông Lạc Thư luôn có tổng bằng 15?

Vì Lạc Thư là ô vuông ma thuật bậc ba chuẩn, tức cách sắp duy nhất của chín số 1 tới 9 sao cho mọi hàng, mọi cột và hai đường chéo đều có cùng một tổng. Tổng của chín số từ 1 tới 9 là 45, chia đều cho ba hàng thì mỗi hàng được 15. Số 5 nằm ở giữa, nên hai ô đối xứng qua tâm luôn cộng lại thành 10.

Hà Đồ Lạc Thư có phải là Hà Lạc lý số không?

Không. Hà Đồ và Lạc Thư là hai đồ hình cổ dùng làm bản đồ số và hành. Hà Lạc lý số là một môn riêng, lấy hai đồ hình này làm nền số để đổi tứ trụ, tức năm tháng ngày giờ sinh, ra các quẻ Dịch rồi luận đoán. Hai khái niệm liên quan nhưng không đồng nhất.

Bài này thuộc chủ đề Kinh Dịch. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Kinh Dịch.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Hà Đồ - Lạc Thư - Lý số Việt Nam
  2. Luoshu Square - Wikipedia
  3. Thuật số Lạc Thư (Kỳ Môn Độn Giáp nguyên thủy)
  4. Tử Vi kinh nghiệm quyển hạ
  5. ghi chép tử vi 01
#HàĐồ#LạcThư#BátQuáiTiênThiên#BátQuáiHậuThiên#NgũHành#CửuTinh#KinhDịch#HàLạcLýSố#PhongThủy