
TL;DR: Hà Lạc lý số là một nhánh thuật số Đông phương, lấy tứ trụ Bát Tự (can chi năm, tháng, ngày, giờ sinh) làm nguyên liệu đầu vào, chuyển thành số âm dương theo Hà Đồ và Lạc Thư, rồi chuyển tiếp thành quẻ Dịch để luận mệnh vận. Theo sách Bát Tự Hà Lạc lược khảo của Học Năng, cả quá trình gồm ba lần chuyển hình: từ Bát Tự ra số Hà Lạc, từ số Hà Lạc ra quẻ Dịch, rồi từ quẻ Dịch ra quẻ Hà Lạc. Đây là hệ thống diễn giải theo trường phái, không phải môn khoa học dự báo đã được kiểm chứng.
Hà Lạc lý số là gì?
Hà Lạc lý số là một nhánh của thuật số Đông phương, lấy tứ trụ Bát Tự làm nguyên liệu đầu vào, chuyển can chi thành con số theo Hà Đồ và Lạc Thư, rồi chuyển số thành quẻ Dịch để luận mệnh vận con người. Sách Bát Tự Hà Lạc lược khảo của Học Năng gọi Bát Tự là "bào thai" của Hà Lạc, và nói ngược lại rằng Hà Lạc là Bát Tự đã chuyển hình[1]. Nói cách khác, muốn lấy số Hà Lạc thì trước hết phải đổi năm tháng ngày giờ sinh ra Bát Tự đã.
Cần phân biệt hai tầng khác nhau. Tầng thứ nhất là dữ kiện lịch pháp: can chi của năm, tháng, ngày, giờ sinh và tiết khí đi kèm, đây là phần tính ra được và kiểm chéo được với lịch in hay bảng tính độc lập. Tầng thứ hai là quy ước tra cứu của sách: trị số của can, trị số của chi, cách quy đổi ra quẻ, cách tìm hóa công và thiên địa nguyên khí, đây là quy ước của môn, không phải dữ kiện thiên văn. Sách đặt chữ Bát Tự lên trước tên Hà Lạc để nhấn mạnh rằng muốn lấy số Hà Lạc hay các môn như Mệnh học, Tử Bình đều phải bắt đầu bằng Bát Tự[1].
Vì sao môn này lại mang tên Hà Lạc?
Tên gọi Hà Lạc ghép hai chữ Hà Đồ và Lạc Thư, hai đồ hình cổ của truyền thống Kinh Dịch. Sách Bát Tự Hà Lạc lược khảo trình bày rằng Hà Đồ gắn với Long Mã và Lạc Thư gắn với Thần Quy, và môn này căn cứ trên hai đồ hình ấy để định trị số cho can chi. Cụ thể, nhờ sự trung gian của ngũ hành trong Hà Đồ thì mới đổi được chi ra số, còn nhờ sự trung gian của tám quẻ trong Lạc Thư cùng bảng mười can phối quẻ (nạp giáp) thì mới đổi được can ra số[1].
Sách thuật lại truyền thuyết con Long Mã đội đồ hình ở sông Hà và con rùa thần đội sách ở sông Lạc, rồi tự ghi rằng hai con vật ấy có thật hay không thì nằm ngoài phạm vi của sách[1]. Đó là truyền thuyết và quy ước của môn, không phải sự kiện lịch sử đã xác lập. Cũng chưa có nghiên cứu nào cho thấy việc gán trị số theo Hà Đồ Lạc Thư có hiệu lực dự báo vượt mức ngẫu nhiên.
Lập quẻ Hà Lạc từ can chi như thế nào?
Quy trình gồm ba lần chuyển hình liên tiếp. Sách Bát Tự Hà Lạc lược khảo mô tả vòng chuyển hóa này theo thứ tự: can chi ra số, số ra quẻ, và quẻ ra quẻ Hà Lạc[1]. Sách cũng ví quá trình biến hóa ấy với việc trứng ngài nở ra tằm, tằm thành nhộng, nhộng thành bướm, để nhấn mạnh rằng số Hà Lạc thoát thai từ Bát Tự.
- Bước một, lập tứ trụ. Đổi năm tháng ngày giờ sinh ra can chi của bốn trụ, tức Bát Tự. Đây là phần dùng lịch pháp, có thể tra bảng. Sách dặn rằng Bát Tự lấy ngày giờ tiết Lập xuân làm mốc đổi tuổi chứ không lấy ngày mùng một Tết, và tháng sinh cũng tính theo tiết khí[1]. Phần phụ chương của sách có bảng bách niên lịch bằng chữ Việt, dịch từ lịch Trung Hoa, để tra can chi ngày sinh và tiết khí của trăm năm.
- Bước hai, đổi can chi ra số. Dùng hai bảng trị số, một của can và một của chi; bảng mười can phối quẻ (nạp giáp) cho biết vì sao can mang số ấy. Can chi cho tất cả mười hai con số, số lẻ là số dương, số chẵn là số âm, xếp riêng rồi cộng lại thành một tổng số dương và một tổng số âm[1].
- Bước ba, đổi tổng số ra quẻ. Sách viết: "Phải chuyển ra quẻ thì mới tìm thấy nghĩa lý, còn để nguyên những con số, thì không biết được gì."[1]
- Bước bốn, tìm hóa công, thiên nguyên khí và địa nguyên khí. Hóa công lấy theo tháng sinh, còn thiên nguyên khí và địa nguyên khí lấy theo can chi năm sinh[1].
Sách Bát Tự Hà Lạc lược khảo có phần thực tập chuyển hình những Bát Tự của mỗi tuổi ra số Hà Lạc rồi chuyển số ra quẻ Dịch, sau đó mới xem phần giải đáp để kiểm soát. Đây là cách trình bày khá đặc biệt: người học tự chuyển trước, đối chiếu sau.
Bảng đổi can chi ra số trong sách ra sao?
Sách cho hai bảng trị số[1]. Mười can nhận số của quẻ mà can ấy phối trên Lạc Thư; số 5 đứng giữa, không đi với can nào. Mười hai chi nhận cặp số sinh và số thành của hành mình trên Hà Đồ.
| Thiên can | Quẻ phối | Trị số |
|---|---|---|
| Mậu | Khảm | 1 |
| Ất, Quý | Khôn | 2 |
| Canh | Chấn | 3 |
| Tân | Tốn | 4 |
| Nhâm, Giáp | Kiền | 6 |
| Đinh | Đoài | 7 |
| Bính | Cấn | 8 |
| Kỷ | Ly | 9 |
| Địa chi | Hành | Trị số |
|---|---|---|
| Hợi, Tý | Thủy | 1 và 6 |
| Tỵ, Ngọ | Hỏa | 2 và 7 |
| Dần, Mão | Mộc | 3 và 8 |
| Thân, Dậu | Kim | 4 và 9 |
| Thìn, Tuất, Sửu, Mùi | Thổ | 5 và 10 |
Bốn can cho bốn số, bốn chi cho tám số, cộng là mười hai số. Số lẻ xếp vào hàng dương, số chẵn vào hàng âm, rồi cộng riêng từng hàng thành tổng số dương và tổng số âm[1]. Tổng số dương lớn hơn 25 thì bớt 25, tổng số âm lớn hơn 30 thì bớt 30, mỗi tổng chỉ bớt một lần; 25 là tổng năm số lẻ từ 1 tới 9, 30 là tổng năm số chẵn từ 2 tới 10. Số còn lại từ 10 trở lên thì bỏ hàng chục; gặp số tròn chục thì giữ chữ số hàng chục, như 10 giữ 1, 30 giữ 3[1]. Tổng số dương bằng hay nhỏ hơn 25, tổng số âm nhỏ hơn 30 thì chỉ bỏ hàng chục. Học Năng ghi rằng sách Hà Lạc Lý Số chỉ dạy sơ qua đoạn này, còn việc chia ra từng trường hợp là theo kinh nghiệm thầy truyền[1].
Số còn lại đổi ra quẻ theo số Lạc Thư ở bảng can: 1 Khảm, 2 Khôn, 3 Chấn, 4 Tốn, 6 Kiền, 7 Đoài, 8 Cấn, 9 Ly. Số 5 không ứng với quẻ nào, nên sách dùng luật tam nguyên: sinh trong thượng nguyên thì nam lấy quẻ Cấn, nữ lấy quẻ Khôn; hạ nguyên thì nam lấy Ly, nữ lấy Đoài; trung nguyên thì dương nam, âm nữ lấy Cấn, dương nữ, âm nam lấy Khôn[1]. Sách kê thượng nguyên từ Giáp Tý 1864 tới Quý Hợi 1923, trung nguyên từ 1924 tới 1983, hạ nguyên từ 1984 tới 2043. Dương nam và âm nữ thì quẻ của số dương ở trên, quẻ của số âm ở dưới; âm nam và dương nữ thì ngược lại. Dương nam là đàn ông sinh năm có can chi dương như Giáp Dần, Bính Thìn; âm nữ là đàn bà sinh năm âm như Ất Mão, Đinh Tỵ[1].
Một ví dụ trong sách đi từ Bát Tự tới quẻ thế nào?
Sách lấy một người nam có Bát Tự là năm Quý Sửu, tháng Nhâm Tuất, ngày Đinh Sửu, giờ Ất Tỵ[1]. Tính lại theo hai bảng trên:
| Trụ | Can | Số của can | Chi | Số của chi |
|---|---|---|---|---|
| Năm | Quý | 2 | Sửu | 5 và 10 |
| Tháng | Nhâm | 6 | Tuất | 5 và 10 |
| Ngày | Đinh | 7 | Sửu | 5 và 10 |
| Giờ | Ất | 2 | Tỵ | 2 và 7 |
Số lẻ gồm 5, 5, 7, 5, 7, cộng là 29. Số chẵn gồm 2, 10, 6, 10, 10, 2, 2, cộng là 42. 29 bớt 25 còn 4, là quẻ Tốn (Phong). 42 bớt 30 còn 12, bỏ hàng chục còn 2, là quẻ Khôn (Địa). Quý Sửu là năm âm, người nam nên là âm nam: quẻ của số âm ở trên, quẻ của số dương ở dưới, được quẻ Địa Phong Thăng, đúng như lời giải của sách[1].
Quẻ Tiên thiên và quẻ Hậu thiên khác nhau ở chỗ nào?
Quẻ Tiên thiên là quẻ Dịch đầu tiên do Bát Tự chuyển ra, như quẻ Thăng ở ví dụ trên; theo sách, nó quản tiền vận. Quẻ Hậu thiên do quẻ Tiên thiên biến ra và quản hậu vận[1]. Sách dặn rằng Tiên thiên, Hậu thiên ở đây khác hẳn Tiên thiên và Hậu thiên Bát Quái của Kinh Dịch.
Muốn biến quẻ thì phải biết nguyên đường, tức hào làm chủ điểm của quẻ; sách ví nó với cung Mệnh, cung Thân của Tử Vi[1]. Nguyên đường tìm theo giờ sinh: sinh giờ dương (Tý tới Tỵ) thì khởi đếm giờ Tý từ hào dương, sinh giờ âm (Ngọ tới Hợi) thì khởi đếm giờ Ngọ từ hào âm, đếm từ dưới lên, tới giờ sinh ở hào nào thì nguyên đường ở hào ấy. Quẻ chỉ có một, hai hào cùng loại với giờ sinh thì đếm hai lượt trên các hào ấy, chưa hết thì đếm tiếp sang các hào loại kia, mỗi hào một lần; quẻ có ba hào thì hai lượt là vừa đủ sáu giờ; quẻ có bốn, năm hào thì đếm một lượt rồi sang các hào loại kia. Hai quẻ Thuần Kiền và Thuần Khôn có lệ riêng, xét cả nam nữ và việc sinh trước hay sau Đông chí, Hạ chí.
Ở ví dụ trên, giờ Tỵ là giờ dương, quẻ Thăng có hai hào dương là hào 2 và hào 3. Tý ở hào 2, Sửu ở hào 3, Dần lại ở hào 2, Mão ở hào 3; sang hào âm thì Thìn ở hào 1, Tỵ ở hào 4. Nguyên đường ở hào 4. Phép biến có hai việc: hào có nguyên đường đổi âm thành dương hay dương thành âm, rồi quẻ hạ lên làm quẻ thượng, quẻ thượng xuống làm quẻ hạ[1]. Hào 4 của Thăng đổi thành dương thì quẻ Khôn ở trên thành Chấn; đảo hai quẻ, Tốn lên trên, Chấn xuống dưới, được quẻ Hậu thiên Phong Lôi Ích, nguyên đường sang hào 1. Sách cũng ghi Thăng biến Ích.
Đại vận cũng tính từ nguyên đường: khởi một tuổi ở hào nguyên đường của quẻ Tiên thiên rồi đi lên, tới hào 6 thì vòng xuống hào 1, hào dương là chín năm, hào âm là sáu năm; hết sáu hào thì sang nguyên đường của quẻ Hậu thiên và đi tiếp như thế[1]. Với quẻ Thăng, nguyên đường ở hào 4: hào 4 từ 1 tới 6 tuổi, hào 5 từ 7 tới 12, hào 6 từ 13 tới 18, hào 1 từ 19 tới 24, hào 2 từ 25 tới 33, hào 3 từ 34 tới 42; sang quẻ Ích, hào 1 từ 43 tới 51, hào 2 từ 52 tới 57. Các mốc 19 tới 24, 34 tới 42, 43 tới 51 và 52 tới 57 khớp với hình in trong sách.
Có phải cứ cùng năm tháng ngày giờ sinh là ra cùng một quẻ?
Theo quy ước của môn, hai người cùng giới có cùng can chi năm, tháng, ngày, giờ thì ra cùng số và cùng quẻ, và chính sách cũng nêu điều ấy thành câu hỏi. Sách Bát Tự Hà Lạc lược khảo dẫn lại ý trong bài tựa sách Hà Lạc Lý Số của Trần Hy Di, rằng các nhà chú giải Kinh Dịch phân vân, người thì cho là số, người thì cho là lý, người thì bảo lý trước số, người lại nói lý số hợp nhất. Học Năng viết thêm rằng sách của Trần Hy Di nhan đề Hà Lạc Lý Số thì tất nhiên chủ trương lý số hợp nhất[1].
Cũng trong đoạn ấy, sách nêu một con số đáng chú ý: theo một tờ báo cũ dẫn thống kê gia Liên Hiệp Quốc, mỗi giờ dân số hoàn cầu tăng thêm khoảng 5.400 sinh mạng, và trong niên giám dân số học năm 1957 họ tuyên bố dân số trái đất đã tăng gần một phần tư trong hai mươi năm. Sách dùng chi tiết này để gợi vấn đề: có muôn vàn lá số giống hệt nhau vì cùng sinh một năm, tháng, ngày, giờ[1]. Câu trả lời của sách nằm ở chữ lý: những người chung một lá số vẫn khác nhau vì nơi sinh, xã hội, di truyền, là những thứ sách xếp ra ngoài lá số. Chưa có kiểm chứng độc lập nào cho thấy cách giải thích ấy phân biệt được những người cùng tứ trụ.
Hà Lạc khác gì với các môn dùng quẻ khác?
Cùng dùng quẻ Dịch, nhưng Hà Lạc đặt trọng tâm ở con số. Sách Bát Tự Hà Lạc lược khảo tự mô tả đây là loại sách lý số, tức là thực hành phần hình nhi hạ của triết lý Kinh Dịch, chứ không bàn lý thuyết về Dịch lý như phần hình nhi thượng[1]. Nói cách khác, sách không nhằm giải thích triết học Dịch mà nhằm chỉ dẫn cách lấy Bát Tự và tra cứu.
Về mạch nguồn, sách Bát Tự Hà Lạc lược khảo ghi rõ căn bản lấy ở quyển Hà Lạc Lý Số, sách mà truyền thống quy cho Trần Đoàn, tức Trần Hy Di, nhưng chỉ trích dịch những phần chính, có bố cục riêng, tham khảo thêm nhiều sách khác, và có nhiều đoạn hoàn toàn do người biên soạn sáng tác[1]. Học Năng còn chú rằng bảng tam nguyên kê tới thế kỷ 20 hẳn do người soạn sách Hà Lạc đời sau thêm vào, vì Trần Hy Di đã mất từ lâu[1]. Đây là thông tin quan trọng khi trích dẫn: một số đoạn trong sách là lời của người biên soạn đời sau, không phải lời cổ thư. Sách cũng cho biết hướng tới giới trí thức bình dân và các bạn trẻ, nên cố tránh những danh từ chữ Nho khi không cần thiết.
Đọc một quẻ Hà Lạc cần nắm những gì?
Sách Bát Tự Hà Lạc lược khảo nêu các bước tìm hóa công và thiên địa nguyên khí như một phần của quy trình, rồi mới sang phần luận giải. Ví dụ về cách luận: nếu tuổi Giáp Tuất hoặc Nhâm Tuất mà được quẻ Thiên Trạch Lý thì tuổi ấy có đủ cả thiên nguyên khí và địa nguyên khí, vì Giáp, Nhâm và Tuất đều thuộc Kiền là thiên; còn nếu là tuổi Ất Hợi thì chỉ có địa nguyên khí, vì Hợi thuộc Kiền là thiên còn Ất thì không. Theo sách, thiên nguyên khí và địa nguyên khí chủ về phú quý, danh dự, nên còn gọi là quan lộc tinh hay cáo mệnh tinh[1]. Hóa công thì có bốn, theo mùa sinh: sau Đông chí trước Xuân phân là Khảm, sau Xuân phân trước Hạ chí là Chấn, sau Hạ chí trước Thu phân là Ly, sau Thu phân trước Đông chí là Đoài; quẻ Tiên thiên hay Hậu thiên có quẻ ấy thì gọi là có hóa công[1].
Phần luận giải trong sách xếp theo từng hào của từng quẻ, mỗi hào có các mục ý hào, mệnh hợp cách, mệnh không hợp và xem tuế vận; riêng mục tuế vận chia theo quan chức, giới sĩ, người thường[1]. Ví dụ ở hào 2 quẻ Địa Thủy Sư, mục tuế vận, sách viết quan chức ở ngoài được lệnh gọi về trung ương, người thường được quý nhân giúp đỡ và việc thành. Ở hào 3 cùng quẻ, sách chép ý hào là khinh địch bại trận, mệnh hợp cách thì tài sơ đức mỏng và dân chúng không phục, mệnh không hợp thì tuổi thọ không dài. Đây là lời diễn giải của sách, không phải dữ kiện kiểm chứng được.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu bạn muốn tìm hiểu Hà Lạc lý số, hãy bắt đầu từ phần lập tứ trụ, vì đây là phần duy nhất kiểm chéo được với lịch pháp. Hãy coi phần số, phần quẻ và phần lời giải là quy ước của một trường phái, đọc để hiểu cách người xưa tổ chức tri thức, không dùng làm căn cứ quyết định về sức khỏe, tiền bạc hay hôn nhân của mình hay của người khác.
Kết luận nên nhớ gì về Hà Lạc lý số?
Hà Lạc lý số là một hệ thống thuật số lấy Bát Tự làm đầu vào, chuyển can chi thành số theo Hà Đồ Lạc Thư, rồi chuyển số thành quẻ Dịch. Sách Bát Tự Hà Lạc lược khảo của Học Năng mô tả quá trình này gồm ba lần chuyển hình và đặt Bát Tự làm cửa ngõ chung cho nhiều môn như mệnh học, tử bình, lưỡng đầu kiềm. Điểm mạnh của môn là tính hệ thống chặt chẽ trong nội bộ quy ước; điểm yếu là phần luận mệnh không có cơ sở kiểm chứng độc lập, và câu trả lời của sách cho vấn đề trùng tứ trụ, rằng cái lý của mỗi người khác nhau, chưa được kiểm chứng độc lập.