
TL;DR: Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên mở đầu phần Ngoại kỷ bằng kỷ Hồng Bàng, chép Kinh Dương Vương tên Lộc Tục, con vua Đế Minh, được phong trị phương Nam, lập nước Xích Quỷ, rồi lấy con gái chúa Động Đình sinh ra Lạc Long Quân. Đây là đoạn sử được các sử thần thế kỷ 15 ghi lại từ truyền thuyết và thư tịch cũ, không phải biên niên dựa trên văn bản đương thời. Vì vậy cần đọc phần này như một tầng văn bản có chủ đích chính trị và văn hóa, đồng thời đối chiếu với bản Hán văn gốc và các bộ sử đời sau như Việt Nam sử lược hay Đại Nam quốc sử diễn ca.
Đại Việt sử ký toàn thư mở đầu bằng gì?
Bộ quốc sử do Ngô Sĩ Liên và các sử thần đời Lê biên soạn, hoàn thành năm 1479, mở đầu không phải bằng một triều đại có niên đại chắc chắn, mà bằng phần Ngoại kỷ, tức phần chép các thời kỳ được coi là trước và ngoài chính sử của các triều vua Việt. Cuốn thứ nhất của Ngoại kỷ mở bằng Triều họ Hồng Bàng, và trong đó có ba nhân vật nối tiếp nhau: Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương[1].
Bản dịch quốc ngữ của Mạc Bảo Thần (Nhượng Tống), in tại nhà Tân Việt năm 1945, giữ đúng trật tự ấy: sau phần tựa và phàm lệ là tới Ngoại kỷ, cuốn thứ nhất, triều họ Hồng Bàng, rồi lần lượt Kinh Dương Vương, Lạc Long Quân, Hùng Vương; tiếp đó mới sang triều Thục và An Dương Vương[1]. Đây là cấu trúc mà người đọc hôm nay gặp khi tra bất kỳ bản in phổ thông nào của Toàn thư.
Cần nói ngay một điều về tầng văn bản, vì nó quyết định cách đọc toàn bộ phần này. Nguyên bản Hán văn của Toàn thư, phần Ngoại kỷ quyển 1 tới quyển 5, hiện còn và đã được đưa lên các kho văn bản cổ[2]; theo lời bàn của người dịch bản 1945, phần Hồng Bàng và phần triều Thục do chính Ngô Sĩ Liên thêm vào, bằng cách tham bác Bắc sử, dã sử và các sách truyện, chí, chứ các bộ sử trước đó không chép[1]. Nói cách khác, khi Toàn thư chép Kinh Dương Vương, ta đang đọc một văn bản thế kỷ 15 thuật lại một truyền thống xa hơn, chứ không đọc một chứng từ cùng thời với nhân vật.
Kinh Dương Vương là ai theo chép của Toàn thư?
Theo phần Kinh Dương Vương, nhân vật này húy là Lộc Tục, dòng dõi họ Thần Nông. Đế Minh, cháu ba đời của Viêm Đế họ Thần Nông, sinh ra Đế Nghi. Trong chuyến tuần du phương Nam, Đế Minh gặp Vụ Tiên Nữ tại rẫy Ngũ Lĩnh và sinh ra Lộc Tục. Sử chép Lộc Tục là bậc thánh, trí, thông, minh. Tuy Đế Minh thương mến và có ý nhường ngôi cho Lộc Tục, nhưng vì Lộc Tục một mực nhường lại cho anh, nhà vua bèn lập Đế Nghi nối dòng trị phương Bắc; còn Lộc Tục thì được phong làm Kinh Dương Vương, cai quản phương Nam, với quốc hiệu đặt là Xích Quỷ (quỷ đỏ). Kinh Dương Vương kết duyên cùng Thần Long, con gái chúa Động Đình, và bà hạ sinh Lạc Long Quân[3].
Đoạn này có mấy chi tiết đáng dừng lại. Thứ nhất, tên gọi: bản dịch 1945 viết "húy là Lộc Tục", tức sử gia dùng lối chép húy danh của nhân vật như với vua chúa. Thứ hai, nước Xích Quỷ: đây là quốc hiệu đầu tiên xuất hiện trong mạch sử Việt, nhưng Toàn thư chỉ ghi tên nước, không chép bờ cõi. Thứ ba, hôn phối với con gái chúa Động Đình: chi tiết này nối nhân vật vào một không gian truyền thuyết phía bắc, quanh hồ Động Đình.
Bờ cõi nước Xích Quỷ được chép thế nào?
Toàn thư không chép bờ cõi nước Xích Quỷ. Phần Kinh Dương Vương chỉ ghi mốc "Nhâm Tuất, năm đầu" và tên nước[3]. Bốn hướng giáp chỉ xuất hiện ở phần Hùng Vương, và là bờ cõi nước Văn Lang: phía đông giáp biển Nam, phía tây tới Ba Thục, phía bắc đến hồ Động Đình, phía nam tiếp nước Hồ Tôn, tức Chiêm Thành[2][3]. Người đặt bốn hướng ấy cho nước Xích Quỷ là Trần Trọng Kim: Việt Nam sử lược viết bờ cõi Xích Quỷ phía bắc giáp Động Đình hồ (Hồ Nam), phía nam giáp nước Hồ Tôn (Chiêm Thành), phía tây giáp Ba Thục (Tứ Xuyên), phía đông giáp bể Nam Hải, và ghi Kinh Dương Vương làm vua "vào quãng năm nhâm tuất (2879 trước Tây lịch?)", với dấu hỏi của chính tác giả[4].
Đây là chỗ cần phân tầng rõ. Toàn thư không ghi năm theo Tây lịch, chỉ ghi họ Hồng Bàng từ năm Nhâm Tuất tới năm Quý Mão gồm 2.622 năm[3]; mốc 2879 trước Công nguyên là con số người sau tính ngược từ đó, và chính Trần Trọng Kim nhận xét rằng chia ra thì mỗi vua trị vì gần 150 năm, nên truyện đời Hồng Bàng không chắc là xác thực[4]. Dấu hỏi ông đặt sau con số là một lời nhắc đúng mức.
Toàn thư có phải nguồn duy nhất chép về Kinh Dương Vương?
Không. Đây là điểm quan trọng khi tra cứu, vì nhiều người đọc tưởng Toàn thư là văn bản đầu tiên và duy nhất. Thực tế, mạch truyện Hồng Bàng còn được chép lại trong các bộ sử và sách đời sau với những cách kể khác nhau về chi tiết.
Trần Trọng Kim trong Việt Nam sử lược (1920) kể lại cùng mạch: Đế Minh là cháu ba đời của Thần Nông, đi tuần phương nam đến núi Ngũ Lĩnh thì gặp một nàng tiên, lấy nhau, sinh ra Lộc Tục; sau Đế Minh truyền ngôi cho con trưởng là Đế Nghi làm vua phương bắc, phong Lộc Tục làm vua phương nam, xưng là Kinh Dương Vương, quốc hiệu Xích Quỷ. Trần Trọng Kim cũng chép bốn hướng giáp của nước Xích Quỷ và việc Kinh Dương Vương lấy con gái Động Đình quân là Long Nữ, sinh ra Sùng Lãm, nối ngôi xưng Lạc Long Quân[4].
Lê Ngô Cát và các cộng sự trong Đại Nam quốc sử diễn ca (1870) kể cùng nội dung bằng thể lục bát, với những chữ đáng chú ý: "Cháu đời Viêm đế thứ ba, nối dòng Hỏa đức gọi là Đế Minh", "Phong làm quân trưởng nước ta, tên là Lộc Tục, hiệu là Kinh Dương", "Động Đình sớm kết với nàng Thần Long", "Sinh con là hiệu Lạc Long trị vì"[5]. Bản diễn ca gọi Lộc Tục là "quân trưởng nước ta", một cách gọi khác với "trị phương Nam" của Toàn thư và "vua phương nam" của Việt Nam sử lược, và cách gọi ấy phản ánh góc nhìn của người soạn sách ở thế kỷ 19.
So ba văn bản, có thể thấy các chi tiết lõi trùng nhau: dòng dõi Thần Nông, Đế Minh, chuyện gặp tiên ở phương nam, Lộc Tục được phong trị phương nam, hiệu Kinh Dương Vương, quốc hiệu Xích Quỷ, hôn phối với con gái chúa Động Đình, sinh ra Lạc Long Quân. Khác nhau nằm ở sắc thái và ở cách định vị nhân vật: Toàn thư đặt ông vào khung đế vương phương bắc, sử lược giữ nguyên khung ấy nhưng kể gọn hơn, còn diễn ca kéo nhân vật về gần với "nước ta" hơn.
Vì sao phần mở đầu lại bắt đầu bằng một nhân vật nửa truyền thuyết?
Đây là câu hỏi mà người đọc sử thường đặt, và câu trả lời nằm ở chức năng của phần Ngoại kỷ chứ không nằm ở độ xác thực của từng chi tiết.
Việc Toàn thư mở đầu bằng họ Hồng Bàng, rồi mới tới nhà Thục, nhà Triệu, rồi tới Trưng Nữ Vương và hết Bắc thuộc, cho thấy sử thần đời Lê muốn dựng một dòng chảy liên tục từ buổi đầu dựng nước tới thời đại mình đang sống[1][2]. Trong một bộ quốc sử, phần đầu có nhiệm vụ thiết lập gốc: ai là tổ tiên của cộng đồng chính trị mà bộ sử ấy đang viết. Kinh Dương Vương làm việc ấy bằng cách nối dòng dõi Viêm Đế ở phương bắc với cõi nước phương nam, và đó là một cách nối có ý thức.
Trong lời bàn của mình, Ngô Sĩ Liên có chỗ tin, có chỗ ngờ. Với chuyện trăm trai, ông viện chuyện nuốt trứng chim én mà sinh tổ nhà Thương rồi viết "ấy đều là chép chuyện có thực"; với chuyện Sơn Tinh, Thủy Tinh, ông viết "Tin cả sách chẳng thà không sách" và nói chỉ tạm thuật truyện cũ để truyền lại lẽ đáng ngờ[1]. Người dịch bản 1945 thì dứt khoát hơn: ở lời bàn cuối triều Thục, ông viết rằng các thần thoại ấy "chỉ nên coi là... thần thoại", và lời bàn "đáng tin" hay "chẳng đáng tin" của họ Ngô đến thế hệ ông đã không còn lý do đứng đắn[1]. Tức là ngay trong truyền thống sử học Việt Nam, mức độ tin cậy của phần đầu đã được đặt vấn đề từ lâu.
Có phải chỉ sử Việt mới mở đầu như vậy?
Không hẳn. Việc lấy một nhân vật nửa huyền thoại làm khởi điểm là chuyện phổ biến trong sử học cổ ở nhiều nước, nơi phả hệ vua chúa thường được nối lên các vị thần hoặc các đế vương thượng cổ. Điều đáng quan tâm không phải là chuyện "có thật hay không", mà là việc chọn ai làm khởi điểm, và việc chọn ấy nói lên điều gì về cộng đồng đã sản sinh ra văn bản.
Hồng Bàng và Kinh Dương Vương còn dấu vết trong đời sống tín ngưỡng hôm nay không?
Còn, và đây là một tầng khác của cùng chủ đề. Nếu phần Ngoại kỷ là tầng văn bản, thì tín ngưỡng thờ các vị vua thời đầu là tầng thực hành.
Hồ sơ đề cử của Nhà nước Việt Nam gửi UNESCO năm 2012, với tên Worship of Hùng kings in Phú Thọ, đã được ghi danh vào Danh sách đại diện di sản văn hóa phi vật thể của nhân loại. Phần thư mục liệt kê các nguồn chữ Hán và chữ Nôm được huy động cho hồ sơ gồm có Đại Việt sử ký toàn thư của Ngô Sĩ Liên, Khâm định Việt sử thông giám cương mục của Quốc sử quán nhà Nguyễn, Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú, Kiến văn tiểu lục của Lê Quý Đôn, và cả bản Ngọc phả Hùng Vương sao năm 1470 đang lưu tại khu di tích đền Hùng[6].
Chi tiết đáng chú ý ở đây là Ngọc phả Hùng Vương, bản sao năm 1470. Đây là loại văn bản khác với quốc sử: ngọc phả là phả hệ của dòng họ được thờ, thường do các dòng họ hoặc địa phương gìn giữ, và nội dung của nó phục vụ việc thờ cúng nhiều hơn là việc ghi chép biên niên. Việc hồ sơ UNESCO dẫn cả hai loại văn bản cho thấy truyền thống về các vua Hùng nói chung, và về buổi đầu dựng nước nói riêng, tồn tại song song ở hai dòng: dòng sử quan và dòng phả hệ tín ngưỡng.
Một nghiên cứu bình duyệt của Niculae Liviu Gheran công bố năm 2022 trên Caietele Echinox bàn về các hình ảnh nữ thần được thờ ở miền Bắc Việt Nam có nhắc lại mạch truyện Lạc Long Quân và Âu Cơ, trong đó Lạc Long Quân đưa Âu Cơ lên đỉnh núi Tản Viên, rồi hai người chia tay, một người về biển, một người ở núi, và những người con ở lại với Âu Cơ trở thành tổ tiên của các vua Hùng và người Việt[7]. Cách đọc này nhấn vào vai trò của hình tượng người mẹ trong tín ngưỡng, một hướng tiếp cận khác với hướng sử quan thuần túy.
Đọc phần mở đầu Toàn thư cần lưu ý những gì?
Có mấy điều nên giữ trong đầu khi tra cứu phần này.
Thứ nhất, phân biệt tầng văn bản. Câu "Toàn thư chép Kinh Dương Vương là..." khác với câu "Kinh Dương Vương là...". Câu thứ nhất là một khẳng định về văn bản và kiểm chứng được: mở bản Hán văn hoặc bản dịch ra là thấy. Câu thứ hai là một khẳng định về quá khứ, và phần Hồng Bàng của Toàn thư không đủ tư cách làm chứng cứ cho nó.
Thứ hai, chú ý bản dịch. Bản dịch Mạc Bảo Thần năm 1945 chỉ gồm phần Ngoại kỷ, và xen nhiều lời chú, lời bàn riêng của người dịch, nên khi dẫn cần tách lời Toàn thư với lời người dịch[1]. Bản in cũng có chỗ lầm: bờ cõi nước Văn Lang in là "phía Tây tiếp với nước Hồ Tôn", trong khi bản Hán văn chép phía nam[2]. Với các chi tiết nhỏ như tên riêng, cách phiên âm, hay con số, việc đối chiếu là cần thiết.
Thứ ba, để ý chỗ các bản khác nhau. Ví dụ, tên gọi người vợ của Kinh Dương Vương: Toàn thư bản dịch 1945 chép "con gái chúa Động Đình tên là Thần Long"[3], còn Việt Nam sử lược chép "con gái Động Đình quân là Long Nữ"[4]. Diễn ca thì viết "Động Đình sớm kết với nàng Thần Long"[5]. Đây là những biến thể nhỏ nhưng đáng ghi nhận khi trích dẫn.
| Văn bản | Tác giả, năm | Tên người vợ của Kinh Dương Vương | Tên con nối ngôi |
|---|---|---|---|
| Đại Việt sử ký toàn thư (bản dịch 1945) | Ngô Sĩ Liên và các sử thần, 1479; Mạc Bảo Thần dịch, 1945 | Con gái chúa Động Đình, tên Thần Long | Sùng Lãm, hiệu Lạc Long Quân |
| Việt Nam sử lược | Trần Trọng Kim, 1920 | Con gái Động Đình quân, là Long Nữ | Sùng Lãm, nối ngôi xưng Lạc Long Quân |
| Đại Nam quốc sử diễn ca | Lê Ngô Cát và cộng sự, 1870 | Nàng Thần Long | Con hiệu Lạc Long |
Thứ tư, đừng gộp Kinh Dương Vương với Hùng Vương. Trong mạch Toàn thư, Kinh Dương Vương là đời thứ nhất, Lạc Long Quân là đời thứ hai, còn Hùng Vương là con của Lạc Long Quân và là người dựng nước Văn Lang[1][3]. Việc thờ cúng ở đền Hùng gắn với các vua Hùng, tức mắt xích thứ ba trong chuỗi ấy, không phải với Kinh Dương Vương. Trộn hai nhân vật làm một là lỗi thường gặp khi tra cứu nhanh.
Vậy câu trả lời cho câu hỏi ban đầu là gì?
Phần mở đầu Đại Việt sử ký toàn thư chép về họ Hồng Bàng, mở đầu bằng Kinh Dương Vương tên Lộc Tục, dòng dõi Thần Nông, được phong trị phương Nam, lập nước Xích Quỷ, lấy con gái chúa Động Đình sinh ra Lạc Long Quân; tiếp đó là Lạc Long Quân và Hùng Vương, rồi mới sang nhà Thục. Đó là nội dung văn bản, và nội dung ấy ổn định qua các bản dịch. Điều cần thận trọng không nằm ở việc Toàn thư chép gì, mà ở việc ta có coi những gì nó chép về buổi đầu là lịch sử đã xảy ra hay không. Chính người dịch bản 1945 đã đặt câu hỏi ấy trong các lời bàn ông viết sau triều Hồng Bàng và triều Thục[1].
