Tri thức / Đông phương / Tử Vi Đẩu Số

Tử vi

Hóa Kỵ trong Tử Vi phi tinh đọc thế nào cho đúng? Kỵ nhập, Kỵ xung, Lộc Kỵ đồng cung và trùng điệp Kỵ

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Hóa Kỵ trong Tử Vi phi tinh đọc thế nào cho đúng? Kỵ nhập, Kỵ xung, Lộc Kỵ đồng cung và trùng điệp Kỵ

TL;DR: Trong lối phi tinh Tứ Hóa, Hóa Kỵ không chỉ an theo can năm sinh mà còn do can của từng cung phi ra. Sách Tử Vi đẩu số: Mệnh vận phân tích của Từ Tăng Sinh, người tự ghi thầy mình thuộc Phi Tinh phái, đọc Kỵ theo mấy tình huống: Kỵ nhập (Kỵ vào cung đang xét), Kỵ xung (Kỵ vào cung đối, sách coi là hung nhất), Lộc Kỵ đồng cung (sách luận là song Kỵ khi cùng một sao hóa ra) và trùng điệp Kỵ (Kỵ của lá số gốc và Kỵ của đại hạn cùng vào một cung). Tử Vi đẩu số toàn thư chỉ dạy an Tứ Hóa theo can năm sinh. Đây là cách đọc của một phái thời nay, chưa được kiểm chứng, không phải quy tắc chung của mọi người học Tử Vi.

Hóa Kỵ trong Tử Vi phi tinh là gì?

Hóa Kỵ là một trong bốn sao của Tứ Hóa (Lộc, Quyền, Khoa, Kỵ), được an theo can của năm sinh hoặc can của từng cung. Trong Tử Vi đẩu số toàn thư, quyển hai, phần an sao chỉ dạy cách an Tứ Hóa theo can năm sinh, ví dụ người sinh năm Giáp thì Liêm Trinh hóa Lộc, Phá Quân hóa Quyền, Vũ Khúc hóa Khoa, Thái Dương hóa Kỵ[1]. Còn "phi tinh" là kỹ thuật lấy can của từng cung trong lá số để phi Tứ Hóa đi, tạo ra một lớp thông tin thứ hai ngoài Tứ Hóa năm sinh.

Sách Tử Vi đẩu số Mệnh vận phân tích của Từ Tăng Sinh giải thích rằng mỗi cung vị trong mệnh bàn có hai lớp: tổ hợp sao tọa thủ (đặc tính cung) và can cung phi Tứ Hóa (khí hóa của sao). Tác giả gọi lớp thứ hai là "Hóa Khí" của sao tọa trong cung[2]. Hóa Kỵ phi tinh vì thế không phải một sao mới xuất hiện trên lá số, mà là kết quả của việc lấy can cung làm điều kiện rồi tra bảng Tứ Hóa.

Trong sách, tác giả ghi thầy mình thuộc Phi Tinh phái, một trong nhiều lưu phái Tử Vi thời nay mà ông kể tên, và cho biết sách vở dùng phép luận Tứ Hóa này tới năm 1985 mới được công khai[2]. Những điều thuật lại dưới đây vì vậy là lối đọc của một phái thời nay, không phải phép luận có sẵn trong Tử Vi đẩu số toàn thư.

Vì sao phải phân biệt Kỵ năm sinh với Kỵ phi tinh?

Kỵ năm sinh là Kỵ cố định, an một lần theo can năm sinh, ai cũng tra được bằng bảng. Kỵ phi tinh là Kỵ động, thay đổi theo từng cung được xét, nên một lá số có thể có nhiều Kỵ phi tinh khác nhau cùng lúc. Sách Mệnh vận phân tích cho rằng tính chất của sao chỉ đổi khác, rồi thành sự kiện, sau khi chịu tác động của Tứ Hóa qua từng tầng[2].

Kỵ nhập và Kỵ xung khác nhau thế nào?

Kỵ nhập là Hóa Kỵ bay vào chính cung đang xét, còn Kỵ xung là Hóa Kỵ bay vào cung đối diện, từ đó đối chiếu phá cung đang xét. Sách Mệnh vận phân tích viết rằng trong Tứ Hóa "quan trọng hàng đầu là sao Hóa Kỵ", và về cường độ thì Kỵ xung là hung nhất, hung lực của Kỵ tọa trong cung kém hơn[2].

Ví dụ sách đưa ra: cung Huynh Đệ có Thiên Tướng độc tọa, nếu can cung phi Tứ Hóa thành Hóa Kỵ xung cung Mệnh thì không thể nhờ vả gì người anh em, vì Ấn tinh Hóa Kỵ tới xung Mệnh[2]. Ở đây Kỵ không nằm trong cung Huynh Đệ mà rơi vào cung Thiên Di, cung đối của cung Mệnh, nên gọi là xung Mệnh.

Sách cũng nêu mấy nguyên tắc về Kỵ xung giữa lá số gốc và lá số đại hạn. Cung nào hóa Kỵ xung cung Mệnh, sách coi là bất lợi; cung Mệnh hóa Kỵ xung một trong mười một cung còn lại cũng vậy, và sách gọi đó là xu hướng "giải khai, chia lìa, thoát ra"[2].

Tình huốngVị trí KỵHướng tác độngCách sách mô tả
Kỵ nhập (Kỵ tọa)Trong cung đang xétTrực tiếp lên cungHung lực kém hơn Kỵ xung
Kỵ xungCung đối diệnXung cung đang xétSách coi là hung nhất
Kỵ xung giữa cung Mệnh và cung khácCung đối của cung bị xungHai chiều, lá số gốc hoặc đại hạnXu hướng giải khai, chia lìa, thoát ra
Kỵ xung giữa cung đồng loại của gốc và đại hạnCung đối của cung cùng tênHai chiềuCung ấy phát sinh chuyện bất lợi

Lộc Kỵ đồng cung đọc thế nào?

Lộc Kỵ đồng cung là trường hợp Hóa Lộc và Hóa Kỵ cùng tụ lại một cung. Trong bảng tổ hợp hai sao Hóa, sách Mệnh vận phân tích ghi gọn: "Lộc, Kỵ đồng cung: luận là song Kỵ"[2]. Ví dụ của sách là một lá số có cung Phụ Mẫu ở Canh Dần, trong cung có Thiên Đồng hóa Lộc và Văn Xương hóa Khoa; can Canh của chính cung ấy lại làm Thiên Đồng hóa Kỵ, thành Lộc Kỵ đồng cung, và sách cho rằng cung Tật Ách ở đối cung phải chịu sức xung của Kỵ[2].

Sách cũng đặt điều kiện cho cách luận này: ở một lá số khác, Thái Âm hóa Lộc và Thái Dương hóa Kỵ cùng vào cung Phu Thê, tác giả viết rằng Lộc và Kỵ không do cùng một sao hóa ra thì không sinh hiệu lực song Kỵ; hai lực cùng tồn tại, và sách đọc thành chuyện tình cảm không ổn định[2].

Ví dụ cung Canh Dần ở trên dựa vào bảng Tứ Hóa mà sách dùng, trong đó can Canh làm Thiên Đồng hóa Kỵ. Bài ca an Tứ Hóa trong Tử Vi đẩu số toàn thư quyển hai cũng ghi "庚日武阴同为首", tức can Canh: Thái Dương hóa Lộc, Vũ Khúc hóa Quyền, Thái Âm hóa Khoa, Thiên Đồng hóa Kỵ[1]. Một bảng khác lưu truyền rộng, cũng là bảng mà tiện ích lập lá số Tử Vi của Nhật Nguyệt dùng, lại ghi can Canh là Thiên Đồng hóa Khoa, Thái Âm hóa Kỵ; theo bảng ấy thì cung Canh Dần trong ví dụ không có Thiên Đồng tự hóa Kỵ. Các phái chưa thống nhất ở can này.

Tự Hóa Kỵ là gì?

Tự Hóa Kỵ là trường hợp can của chính cung ấy làm cho sao trong cung ấy hóa Kỵ, như Thiên Đồng ở cung Canh Dần trong ví dụ trên. Sách Mệnh vận phân tích viết rằng một cung trên lá số gốc tự hóa Kỵ thì cũng có thể gọi là "Kỵ Xuất", và đọc theo nghĩa phát tán[2]. Ở ví dụ mở đầu sách, Thiên Cơ hóa Lộc theo năm sinh nằm tại cung Mậu Tý, can Mậu làm Thiên Cơ tự hóa Kỵ, và tác giả gọi trường hợp Lộc năm sinh gặp tự hóa Kỵ như vậy là Song Kỵ[2].

Trùng điệp Kỵ: nhiều tầng Kỵ chồng lên nhau

Sách Mệnh vận phân tích định nghĩa Trùng điệp Kỵ là trường hợp một cung của lá số gốc hóa Kỵ và một cung của lá số đại hạn hóa Kỵ cùng vào một cung; cung ấy chịu lực của Kỵ kép, và theo sách, sự việc phát sinh khi lưu niên đi tới cung ấy hoặc cung đối của nó[2]. Kỵ gốc và Kỵ đại hạn rơi vào hai cung đối nhau thì sách gọi là Hỗ xung Kỵ. Cùng lối chồng tầng ấy, sách phân tích một lá số: đại hạn Nhâm Thìn có cung Quan Lộc đại hạn trùng với cung Tật Ách gốc; can Bính của cung Tật Ách gốc khiến Liêm Trinh Hóa Kỵ nhập vào cung Tật Ách đại hạn, mà cung này vốn đã có Kỵ năm sinh, thành hai tầng hung lực. Sách cũng nói cung Quan Lộc đại hạn trùng cung Tật Ách gốc, lại Hóa Kỵ tới xung cung Quan Lộc gốc, nên sách cho rằng ở lá số này chuyện sự nghiệp bất lợi và chuyện bệnh tật có liên quan với nhau[2].

Về Liêm Trinh, sách viết Liêm Trinh chủ máu huyết, vừa làm chủ quan lộc, Liêm Trinh Hóa Kỵ diễn biến thành do quan tụng thị phi mà chịu giam cầm, và dẫn câu "Liêm Trinh Hóa Kỵ, gọi là Tù"[2]. Đây là cách hiểu của trường phái, không phải quy tắc bắt buộc cho mọi người học Tử Vi.

Với mười hai cặp cung đồng loại của lá số gốc và lá số đại hạn, sách nêu nguyên tắc không cung nào nên hóa Kỵ xung cung cùng tên ở lá số kia. Theo sách, gặp tình huống ấy thì cung liên quan phát sinh chuyện bất lợi: ở các cung chỉ việc là kiện tụng, biến động, chuyển nhà, mất tiền; ở các cung chỉ người thân là chuyện ngoài ý muốn, đau ốm[2]. Đó là lời đoán của sách, chưa được kiểm chứng.

Cơ chế thời gian: vì sao Kỵ phải qua nhiều tầng mới hiển lộ?

Sách Mệnh vận phân tích nhấn mạnh rằng sự việc trong Tử Vi phi Tứ Hóa phải qua tăng cường của từng tầng thời gian mới hiển lộ. Sách lấy ví dụ: một việc đã hiện ở đại hạn, lại hiện tiếp ở lưu niên, thì lưu niên được đại hạn tiếp thêm hai tầng lực và việc ấy xảy ra khi tới lưu nguyệt. Qua thời điểm đó, ảnh hưởng yếu dần theo từng tầng và sao trở lại trạng thái tĩnh ban đầu[2].

Sách cũng mô tả trình tự "Nguyên Nhân, Ấp Ủ, Chín Muồi, Phát Sinh, Kết Thúc": theo sách, dấu hiệu của một sự kiện hiện rất nhỏ ở cung Mệnh gốc, rõ dần ở đại hạn, rồi xảy ra vào một lưu niên. Vì thế sách dặn người luận phải nắm hai điều: sự kiện xảy ra lúc nào, và nguyên nhân, hậu quả của nó[2].

Đối chiếu với Tử Vi đẩu số toàn thư

Tử Vi đẩu số toàn thư, quyển hai, phần an sao chỉ dạy an Tứ Hóa theo can năm sinh (đầu bài ca ghi "论生年干", luận theo can năm sinh), không dạy phi Tứ Hóa theo can cung[1]. Quyển một có mục hỏi đáp về sao Hóa Kỵ, chép lời gán cho Hi Di tiên sinh: "忌为多管之神。守身命一生不顺,小限逢之一年不足,大限十年悔吝" (Kỵ vi đa quản chi thần. Thủ Thân Mệnh nhất sinh bất thuận, tiểu hạn phùng chi nhất niên bất túc, đại hạn thập niên hối lận), nghĩa là Kỵ là thần hay vướng nhiều việc, đóng ở Thân, Mệnh thì cả đời không thuận, tiểu hạn gặp thì một năm thiếu hụt, đại hạn gặp thì mười năm hối tiếc[1]. Có thể thấy toàn thư dùng Tứ Hóa như một thành tố luận đoán, nhưng không xây dựng hệ thống phi tinh theo can cung như sách Mệnh vận phân tích.

Điểm so sánhTử Vi đẩu số toàn thưTử Vi đẩu số Mệnh vận phân tích
Tứ HóaAn theo can năm sinhAn theo can năm sinh và can cung
KỵMột lớp, cố địnhNhiều lớp, động theo cung
Trọng tâmTổ hợp sao, cách cụcPhi tinh, tầng thời gian
Kỵ xungNhắc cùng các sát tinh ("羊陀火忌冲破")Coi là hung nhất

Sự khác biệt này không có nghĩa một bên đúng một bên sai. Đây là hai cách tiếp cận khác nhau trong cùng một truyền thống Tử Vi: toàn thư thiên về cách cục tĩnh, sách Mệnh vận phân tích thiên về vận động theo thời gian.

Gợi ý của Nhật Nguyệt khi đọc Hóa Kỵ

Khi gặp Hóa Kỵ trong lá số, người học nên xác định rõ ba câu hỏi: Kỵ này là Kỵ năm sinh hay Kỵ phi tinh? Nó nhập vào cung nào hay xung từ cung nào? Có tầng Kỵ nào khác chồng lên không? Trả lời được ba câu này thì mới có cơ sở luận đoán, tránh thấy Kỵ là kết luận ngay.

Cần nhớ rằng mọi luận đoán Tử Vi, kể cả theo trường phái phi tinh, đều là cách đọc mang tính tham khảo, không phải dự báo chắc chắn về tài chính, sức khỏe hay vận mệnh. Các sách dẫn trong bài cũng chỉ đưa ra nguyên tắc suy luận, còn kết quả cụ thể phụ thuộc vào tổng hợp nhiều yếu tố và vào hoàn cảnh thực tế của mỗi người.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Hóa Kỵ trong Tử Vi phi tinh khác gì Hóa Kỵ năm sinh?

Hóa Kỵ năm sinh được an một lần theo can năm sinh và cố định trên lá số. Hóa Kỵ phi tinh được tạo ra bằng cách lấy can của từng cung để phi Tứ Hóa, nên một lá số có thể có nhiều Kỵ phi tinh khác nhau tùy cung được xét. Sách Tử Vi đẩu số Mệnh vận phân tích của Từ Tăng Sinh xem hai lớp này bổ sung cho nhau khi luận đoán.

Kỵ nhập và Kỵ xung cái nào nặng hơn?

Sách Mệnh vận phân tích viết rằng về cường độ thì Kỵ xung là hung nhất, hung lực của Kỵ tọa trong cung kém hơn. Kỵ nhập tác động thẳng lên cung đang xét, Kỵ xung rơi vào cung đối rồi xung ngược lại. Đây là cách xếp của một phái; mức độ còn tùy các sao trong cung và các tầng Kỵ khác.

Trùng điệp Kỵ có phải lúc nào cũng xấu?

Sách Mệnh vận phân tích định nghĩa trùng điệp Kỵ là Kỵ của lá số gốc và Kỵ của lá số đại hạn cùng vào một cung; cung ấy chịu lực Kỵ kép, và sách cho rằng sự việc phát sinh khi lưu niên đi tới cung ấy hoặc cung đối. Đây là cách đọc của một phái, chưa được kiểm chứng, không phải dự báo chắc chắn.

Bài này thuộc chủ đề Tử Vi Đẩu Số. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Tử Vi Đẩu Số.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdTrần Đoàn (truyền thống quy) và La Hồng Tiên (biên) (không rõ năm). Tử Vi Đẩu Số toàn thư (紫微斗數全書), Quyển 1, phần Tứ Hóa禄主缠于弱地发不主财
  2. ↑ abcdefghijklmnopqTừ Tăng Sinh. Tử Vi đẩu số: Mệnh vận phân tích (bản dịch tiếng Việt)
#HóaKỵ#TửViPhiTinh#TứHóa#KỵNhập#KỵXung#LộcKỵĐồngCung#TrùngĐiệpKỵ#TừTăngSinh#TửViĐẩuSốToànThư