Tri thức / Đông phương

Tử vi Đẩu Số

Giáp cung trong Tử Vi là gì và cách an sao thế nào?

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Giáp cung trong Tử Vi là gì và cách an sao thế nào?

TL;DR: Giáp cung là cách nói hai cung nằm ngay hai bên một cung nào đó, thường là Mệnh hoặc Thân, khiến sao ở hai cung kề tạo thành một thế tương tác với cung bị giáp. Trong Tử Vi Đẩu Số, các cặp Kình Dương và Đà La luôn giáp Lộc Tồn vì phép an sao đặt Kình trước và Đà sau Lộc, còn Tả Phụ, Hữu Bật chỉ giáp được cung Mùi (sinh tháng 3, 5 âm lịch) hay cung Sửu (tháng 9, 11), Văn Xương, Văn Khúc chỉ giáp được hai cung ấy khi sinh giờ Dần, Thìn, Thân, Tuất. Cách giáp chỉ là một lớp thông tin phụ trợ, cần đọc cùng chính tinh, miếu hãm và tứ hóa của cung bị giáp, không nên tách riêng để kết luận.

Giáp cung trong Tử Vi là gì?

Giáp cung là cách nói hai cung nằm ngay sát hai bên của một cung đang xét, thường là cung Mệnh hoặc cung Thân. Khi hai cung kề ấy có sao, các sao đó tạo thành một thế tác động vào cung bị kẹp ở giữa, gọi là giáp. Trong Tử Vi Đẩu Số, giáp là một lớp thông tin phụ, đọc kèm chứ không thay thế chính tinh của cung bị giáp. Cung bị giáp vẫn phải xét trước theo chính tinh tọa thủ, miếu vượng hay hãm địa, rồi mới xét tới hai bên kẹp vào.

Cách nói giáp bắt nguồn từ chính cấu trúc của lá số: mười hai cung xếp thành vòng tròn khép kín, mỗi cung có hai cung lân cận. Vì vậy bất kỳ cung nào cũng có hai cung giáp, nhưng trong thực hành người ta chỉ chú ý tới những trường hợp cặp sao ở hai bên tạo thành thế đáng luận, như Kình Đà giáp Lộc, Tả Hữu giáp Mệnh, Không Kiếp giáp Kỵ.

Vì sao Kình Dương và Đà La luôn giáp Lộc Tồn?

Kình Dương và Đà La luôn giáp Lộc Tồn vì phép an hai sao này gắn chặt vào vị trí của Lộc Tồn. Tử Vi Đẩu Số toàn thư quyển 2 ghi quyết an Kình Đà: 禄前擎羊后陀罗, tức Kình Dương ở cung trước Lộc Tồn, Đà La ở cung sau, hai sao đi theo Lộc Tồn mà an[1]. Sách lấy thí dụ: nếu Lộc Tồn ở Tý thì Kình Dương an tại Sửu, Đà La an tại Hợi, các trường hợp khác suy theo cách ấy[1]. Nói cách khác, hễ Lộc Tồn đóng ở đâu thì hai cung kề nó lập tức có Kình và Đà, tạo thành thế Kình Đà giáp Lộc.

Đây là hệ quả tất yếu của phép an sao, không phải một cách cục riêng do người luận tự đặt ra. Vì vậy câu hỏi thực chất không phải là có hay không có Kình Đà giáp Lộc, mà là Lộc Tồn ấy đóng ở cung nào và cung bị giáp có bị xung phá hay không.

Điều kiện để Tả Phụ Hữu Bật giáp cung Mệnh là gì?

Tả Phụ (左辅, sách Tử Vi Việt Nam và lá số của Nhật Nguyệt gọi là Tả Phù) và Hữu Bật chỉ giáp được hai cung: cung Mùi khi sinh tháng 3 hoặc tháng 5 âm lịch, cung Sửu khi sinh tháng 9 hoặc tháng 11. Tử Vi Đẩu Số toàn thư quyển 2 ghi quyết an Tả Hữu theo tháng sinh: Tả Phụ khởi từ cung Thìn vào tháng Giêng rồi đi thuận, Hữu Bật khởi từ cung Tuất vào tháng Giêng rồi đi nghịch[1]. Vì hai sao khởi từ hai cung đối nhau và đi ngược chiều nhau, chúng luôn đối xứng qua trục Sửu Mùi, nên chỉ cùng kề một cung khi cung ấy là Sửu hoặc Mùi: tháng 3 Tả Phụ ở Ngọ, Hữu Bật ở Thân; tháng 5 Tả Phụ ở Thân, Hữu Bật ở Ngọ; tháng 9 Tả Phụ ở Tý, Hữu Bật ở Dần; tháng 11 Tả Phụ ở Dần, Hữu Bật ở Tý. Mệnh phải đóng đúng cung ấy thì mới là Tả Hữu giáp Mệnh.

Quyển 3 của sách xếp 左右夹命 (Tả Hữu giáp Mệnh) là quý cách, nêu thí dụ Mệnh an tại Sửu, Tả Phụ ở Tý, Hữu Bật ở Dần, và chú 若不贵则大富, tức không quý thì cũng giàu lớn[1]. Lời chú ở đó ghi 四七十一月生者 (người sinh tháng 4, 7, 11)[1]; tính theo chính quyết an sao của quyển 2 thì Tả Phụ ở Tý, Hữu Bật ở Dần là người sinh tháng 9, còn tháng 4 hai sao đồng cung ở Mùi, tháng 7 Tả Phụ ở Tuất, Hữu Bật ở Thìn, không kẹp cung nào.

Văn Xương và Văn Khúc giáp cung thì an thế nào?

Văn Xương và Văn Khúc được an theo giờ sinh, và cũng có thể rơi vào hai cung kề của Mệnh. Tử Vi Đẩu Số toàn thư ghi quyết an Xương Khúc: Văn Xương khởi từ cung Tuất vào giờ Tý rồi đi nghịch tới giờ sinh, Văn Khúc khởi từ cung Thìn vào giờ Tý rồi đi thuận tới giờ sinh[1]. Sách lấy thí dụ người sinh giờ Tý thì Văn Xương an tại Tuất, Văn Khúc an tại Thìn; sinh giờ Sửu thì Xương lùi về Dậu, Khúc tiến sang Tỵ[1].

Vì Xương và Khúc khởi từ hai cung đối nhau và đi ngược chiều nhau, hai sao cũng đối xứng qua trục Sửu Mùi và chỉ giáp được cung Sửu (sinh giờ Thân hoặc giờ Tuất) hay cung Mùi (sinh giờ Dần hoặc giờ Thìn). Quyển 3 nêu thí dụ 昌曲夹命: Mệnh ở Sửu, Văn Xương ở Dần, Văn Khúc ở Tý, kèm lời chú 不贵即富,吉多方论此为贵, nghĩa là không quý thì giàu, phải nhiều cát tinh mới luận là quý[1].

Bảng đối chiếu các cặp sao giáp thường gặp

Cặp sao giápCăn cứ an saoCách hình thànhKhi nào giáp, sách xếp loại gì
Kình Dương, Đà LaTheo can năm sinh, gắn với Lộc TồnKình ở cung trước Lộc, Đà ở cung sau LộcLuôn giáp cung Lộc Tồn; giáp Kỵ khi cung ấy có Hóa Kỵ, sách xếp bại cục
Tả Phụ, Hữu BậtTheo tháng sinhTả khởi Thìn đi thuận, Hữu khởi Tuất đi nghịchChỉ giáp Sửu (tháng 9, 11) hay Mùi (tháng 3, 5); sách xếp quý cách
Văn Xương, Văn KhúcTheo giờ sinhXương khởi Tuất đi nghịch, Khúc khởi Thìn đi thuậnChỉ giáp Sửu (giờ Thân, Tuất) hay Mùi (giờ Dần, Thìn); sách khen là kỳ
Địa Không, Địa KiếpTheo giờ sinhKiếp khởi Hợi đi thuận, Không khởi Hợi đi nghịchChỉ giáp Hợi (giờ Sửu, Hợi) hay Tỵ (giờ Tỵ, Mùi); sách xếp bại cục
Hỏa Tinh, Linh TinhQuyết của sách ghi theo chi năm sinhTuổi Dần, Ngọ, Tuất: Hỏa ở Sửu, Linh ở MãoThí dụ của sách: giáp Mệnh ở Dần; sách xếp bại cục

Căn cứ an sao lấy theo các quyết ở quyển 2, xếp loại lấy theo quyển 3 của Tử Vi Đẩu Số toàn thư[1]; tháng sinh và giờ sinh ở cột cuối tính từ các quyết ấy.

Cách giáp được luận tốt xấu thế nào?

Quyển 3 của Tử Vi Đẩu Số toàn thư gom các thế giáp vào một câu: 三夹命凶六夹吉. Lời chú kể ba thế giáp hung là Kiếp Không, Hỏa Linh, Kình Đà; sáu thế giáp cát là Tử Phủ, Tả Hữu, Xương Khúc, Khôi Việt, Khoa Quyền Lộc, Nhật Nguyệt; rồi dặn rằng hung nhiều cát ít thì tuy cát cũng hung, cát nhiều hung ít thì tuy hung cũng cát, và phải xem miếu vượng của Thân, Mệnh, tam phương[1].

Với từng thế hung, sách nêu thí dụ và gọi là bại cục (败局): Kình Đà giáp Kỵ là Mệnh an ở Thân lại gặp sao Hóa Kỵ, Kình Dương ở Dậu, Đà La ở Mùi; Hỏa Linh giáp Mệnh là Mệnh an ở Dần, Thân với thí dụ Hỏa Tinh ở Sửu, Linh Tinh ở Mão, kèm lời chú 吉多尚可, tức nhiều cát tinh thì còn được; Kiếp Không giáp Mệnh là Mệnh an ở Hợi, Địa Kiếp ở Tý, mà theo quyết an sao thì khi ấy Địa Không ở Tuất, ứng người sinh giờ Sửu[1]. Giáp Kỵ ở đây là Hóa Kỵ nằm ngay trong cung bị kẹp, không phải hai cung kề đều có Hóa Kỵ, vì lá số gốc chỉ có một sao Hóa Kỵ theo can năm sinh.

Ở chiều ngược lại, sách ghi Tả Hữu giáp Mệnh là quý cách; thí dụ Mệnh an tại Sửu, Tả Phụ ở Tý, Hữu Bật ở Dần, nếu không hiển quý thì cũng giàu lớn[1]. Sách cũng ghi Khôi Việt giáp Mệnh là kỳ cách, lấy thí dụ Mệnh ở Thìn, Khôi ở Mão, Việt ở Tỵ[1]. Đây đều là cách luận theo quy ước của sách, không phải kết luận cố định về một người cụ thể.

Vì sao không nên tách cách giáp ra khỏi toàn lá số?

Chính lời chú của câu 三夹命凶六夹吉 đã không đọc thế giáp một mình: cùng một thế giáp, sách còn xét cát tinh nhiều hay ít và miếu vượng của Thân, Mệnh, tam phương[1]. Cách giáp vì vậy chỉ là một trong nhiều lớp cần đọc: chính tinh tọa thủ, miếu vượng hay hãm địa, tứ hóa, tam phương tứ chính.

Thế giáp nên đọc như một tín hiệu tăng hoặc giảm mức độ trong hệ quy ước của môn, không phải như một bản án độc lập.

Gợi ý của Nhật Nguyệt khi tra cứu cách giáp

Khi tra một lá số có cách giáp, nên làm theo thứ tự: xác định cung đang xét là Mệnh hay Thân hay một cung chức năng khác; xác định hai cung kề và sao đóng ở đó; đọc chính tinh của cung bị giáp trước; xem cung ấy có Hóa Kỵ hay không; rồi mới kết luận theo hướng tăng hoặc giảm. Với các cặp sao an theo giờ sinh như Xương Khúc, Không Kiếp, nên kiểm tra lại giờ sinh vì sai một giờ là hai cung kề đổi sao, và thế giáp đổi theo.

Cách giáp là một phần của hệ quy ước trong Tử Vi Đẩu Số, không phải một kết luận khoa học về con người. Người đọc nên xem đây như một cách tổ chức thông tin của môn học, dùng để đối chiếu và tự kiểm chứng, không dùng để khẳng định vận mệnh hay quyết định chuyện lớn.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Giáp cung trong Tử Vi nghĩa là gì?

Giáp cung là cách nói hai cung nằm ngay sát hai bên của một cung đang xét, thường là Mệnh hoặc Thân. Khi hai cung kề ấy có sao, các sao đó tạo thành một thế tác động vào cung bị kẹp ở giữa, gọi là giáp. Đây là một lớp thông tin phụ, đọc kèm chính tinh của cung bị giáp, không thay thế chính tinh.

Vì sao Kình Dương và Đà La luôn giáp Lộc Tồn?

Vì phép an hai sao này gắn chặt vào vị trí Lộc Tồn. Tử Vi Đẩu Số toàn thư ghi quyết an Kình Đà rằng Kình ở trước Lộc và Đà ở sau Lộc, hai sao đi theo Lộc Tồn mà an. Nếu Lộc Tồn ở Tý thì Kình an tại Sửu, Đà an tại Hợi, các trường hợp khác suy theo cách ấy.

Tả Phụ Hữu Bật giáp Mệnh khi nào?

Tả Phụ và Hữu Bật giáp Mệnh khi Mệnh đóng ở một cung mà hai sao này nằm ở hai cung kề. Tử Vi Đẩu Số toàn thư ghi Tả Phụ khởi từ Thìn vào tháng Giêng đi thuận, Hữu Bật khởi từ Tuất vào tháng Giêng đi nghịch, nên hai sao chỉ giáp được cung Mùi (sinh tháng 3, 5 âm lịch) hay cung Sửu (tháng 9, 11). Sách nêu thí dụ Mệnh ở Sửu, Tả Phụ ở Tý, Hữu Bật ở Dần; theo quyết an sao thì đó là người sinh tháng 9.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghijklmnTrần Đoàn (truyền thống quy) và La Hồng Tiên (biên) (không rõ năm). Tử Vi Đẩu Số toàn thư (紫微斗數全書), Quyển 1, mục An Tả Hữu Bật tinh quyết, An Văn Xương Văn Khúc tinh quyết, An Lộc Tồn tinh quyết, An Kình Dương Đà La nhị tinh quyết祿前擎羊後陀羅,夾限逢凶禍患多,歲限逢之俱不利,人生遇此莫蹉跎。此二星隨祿存安之,前安擎羊祿後安陀羅。
#TửViĐẩuSố#GiápCung#KìnhDươngĐàLa#LộcTồn#TảPhụHữuBật#VănXươngVănKhúc#AnSaoTửVi#TửViĐẩuSốToànThư