
TL;DR: Theo các sách Tử Vi Việt Nam, Thiên Thương và Thiên Sứ là cặp phụ tinh an theo cung chức: Thiên Thương luôn ở cung Nô Bộc, Thiên Sứ luôn ở cung Tật Ách. Sách Tử Vi đẩu số tân biên và Tử Vi áo bí đều ghi cách an này, còn Tử Vi nghiệm lý toàn thư luận chúng như hai cột mốc kiểm soát quãng đời sau tuổi 50. Tử Vi tổng hợp viết hai sao này chỉ dùng để xem hạn và đi với sát tinh mới tác họa; đó là lời của sách, không phải lời đoán cho một người cụ thể.
Thiên Thương và Thiên Sứ trong Tử Vi là gì?
Theo các sách Tử Vi Việt Nam, Thiên Thương và Thiên Sứ là hai phụ tinh an theo cung chức: Thiên Thương ở cung Nô Bộc, Thiên Sứ ở cung Tật Ách, không phải đếm theo năm, tháng hay giờ sinh như phần lớn các sao khác. Lá số nào cũng có hai sao này ở hai cung ấy. Vì cung Nô Bộc và cung Tật Ách của mỗi lá số rơi vào một địa chi khác nhau tùy cung Mệnh, nên xét theo mười hai địa chi thì vị trí của Thương Sứ vẫn đổi theo từng lá số.
Trong Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang, mục 8.21 bàn về bộ sao Thương Sứ có ghi nhận: cung Nô Bộc là nơi Thiên Thương luôn được an, còn cung Tật Ách là nơi Thiên Sứ luôn được an[1]. Tử Vi áo bí biện chứng học của Việt Viêm Tử cũng chép cùng một quy tắc, và còn đúc thành câu thơ an sao: Nô Thương, Giải Sứ, nghĩa là Thương đặt ở Nô, Sứ đặt ở Ách[4].
Sách Tử Vi áo bí biện chứng học còn bổ sung ngũ hành cho hai sao: Thiên Thương thuộc dương Thủy, Thiên Sứ thuộc âm Thủy[4], trong khi Tử Vi đẩu số tân biên ghi Thiên Thương hành Thổ, Thiên Sứ hành Thủy[1]. Cùng một nguồn ghi Thiên Thương hãm ở các cung Thìn, Ngọ, Mùi; Thiên Sứ hãm ở Sửu, Tuất, và Thiên Sứ chủ về hao tán, tai tật[4].
Cách an Thiên Thương và Thiên Sứ có gì đặc biệt?
Điểm đặc biệt nằm ở chỗ hai sao này không cần tra bảng theo năm sinh. Trong khi Tử Vi đẩu số tân biên dành hẳn một mục riêng để hướng dẫn cách an Tài Thọ theo cung Mệnh và cung Thân, rồi an Khốc Hư theo năm sinh, thì mục Thương Sứ chỉ có đúng hai dòng: Thương ở Nô, Sứ ở Ách[1]. Việt Viêm Tử cũng ghi cách an tương tự và xếp Thương Sứ vào nhóm bốn bộ sao an theo lối riêng, gồm Tài Thọ, Thương Sứ, Khốc Hư và La Võng[4].
| Bộ sao | Cách an | Cung cố định |
|---|---|---|
| Thiên Thương | Cố định | Nô Bộc |
| Thiên Sứ | Cố định | Tật Ách |
| Thiên Tài | Đếm từ cung Mệnh, khởi năm Tý, thuận đến năm sinh | Theo năm sinh |
| Thiên Thọ | Đếm từ cung Thân, khởi năm Tý, thuận đến năm sinh | Theo năm sinh |
| Thiên La | Cố định | Thìn |
| Địa Võng | Cố định | Tuất |
Bảng trên cho thấy Thương Sứ cùng nhóm với La Võng ở chỗ an cố định, nhưng khác ở chỗ La Võng gắn với hai chi Thìn, Tuất, còn Thương Sứ gắn với hai cung chức năng là Nô Bộc và Tật Ách. Chính vì cố định nên khi luận một lá số, người học luôn biết trước hai sao này nằm ở đâu; cái cần xét là cung Nô Bộc và cung Tật Ách của lá số ấy mạnh hay yếu, có sao gì hội tụ.
Vì sao Thiên Thương lại đóng ở cung Nô Bộc?
Trong bốn sách dùng cho bài này, chỉ Tử Vi nghiệm lý toàn thư của Thiên Lương đặt câu hỏi ấy. Sách đặt vấn đề: Thiên Sứ ở Tật Ách thì hợp lý vì Sứ nghĩa là thừa lệnh, chấp chưởng việc thi hành tai ách, nhưng Thiên Thương ở cung Nô thì khó hiểu, bởi lẽ không thể nói rằng hễ có người dưới quyền là báo hại, gây hình thương cho mệnh chủ[2].
Cách lý giải của Tử Vi nghiệm lý toàn thư là đặt Thương Sứ vào trục thời gian của đời người. Sách ví hành trình từ sơ thọ đến thượng thọ như những đoạn đường có dốc lên dốc xuống, và gọi Thương Sứ là hai đồn canh nằm giữa ba đoạn đường ấy: Thương nghĩa là tổn hại, Sứ nghĩa là thừa lệnh[2]. Theo cách đặt vấn đề này, cung Nô và cung Ách là hai mốc có độ dài thời gian bằng nhau. Đương số là dương nam âm nữ đi xuôi thì ngoài 50 tuổi ắt gặp Thương; còn âm nam dương nữ đi nghịch thì ngoài 50 tuổi ắt đụng Sứ[2].
Cũng theo Tử Vi nghiệm lý toàn thư, sau khi vượt mốc yểu tử 49 tuổi, các hạn 53 và 67 gần như không chừa ai, bất kể đương số thuộc nhóm Thái Tuế hay Tuế Phá, Thiếu Dương hay Thiếu Âm, nam hay nữ, đi xuôi hay đi nghịch[2]. Đây là cách luận riêng của sách này theo vòng thời gian, không phải quy luật đã được kiểm chứng về tuổi thọ của bất kỳ ai.
Thiên Thương Thiên Sứ có phải sao xấu tuyệt đối không?
Các sách không tả như vậy. Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc viết thẳng: Thương Sứ chỉ dùng để xem hạn, đi với sát tinh thì tác họa, và cái họa ấy không hẳn là họa binh đao[3]. Cùng nguồn lưu ý rằng các phụ tinh gây họa càng hội tụ nhiều càng làm họa nặng thêm, đặc biệt khi đại hạn và tiểu hạn trùng phùng[3].
Tử Vi áo bí biện chứng học mô tả chi tiết hơn tổ hợp gây họa: khi Thương Sứ hội với Thái Tuế, Kình Dương, Đà La hãm thì thường bị hao tán, thị phi, khẩu thiệt, quan tụng; khi lưu niên hạn mà xuất hành, xa nhà lâu ngày thì phải phòng tai vạ và nhiều việc lo buồn; nếu hội với song Hao, Tang Môn, Bạch Hổ thì có thể ứng vào việc súc vật trong nhà chết chóc, người giúp việc bỏ đi, hoặc ly tán bằng hữu[4].
Tử Vi đẩu số tân biên tả bộ Thương Sứ là buồn thảm, ngăn trở mọi công việc, và ghi riêng: "Gặp Xương, Khúc: tác họa một cách khủng khiếp"[1]. Tử Vi áo bí biện chứng học dẫn câu phú "Quế Sứ, Hoa Thương tối hiềm giao ngộ" và giải rằng Văn Xương hội với Thiên Sứ, Văn Khúc hội với Thiên Thương đồng cung là điều rất xấu, chủ nhiều thị phi[4]. Đó là lời luận hạn của hai sách, không phải lời đoán cho một người cụ thể.
Khi xem hạn, cần luận Thiên Thương Thiên Sứ thế nào?
Tử Vi tổng hợp nhấn mạnh yếu tố trùng phùng: đại hạn và tiểu hạn cùng gặp Thương Sứ hội sát tinh thì mức độ nguy kịch tăng lên rõ rệt[3]. Sách cũng lưu ý nếu Kình Dương và Đà La gặp thêm Lưu Kình, Lưu Đà đồng cung thì hiểm họa càng tăng[3].
Tử Vi nghiệm lý toàn thư nêu một trường hợp cần đề phòng oan trái: khi cung Nô Bộc rơi vào thế tam hợp Tỵ Dậu Sửu, vì Phá Quân tối hãm đi đôi với Phá Toái[2]. Sách khuyên trong trường hợp ấy nên cầu cứu ngay Hóa Khoa và Quang Quí, tức Ân Quang, Thiên Quý; nếu được các sao này chiếu cố thì có thể yên tâm tính chuyện lâu dài[2]. Đây là ví dụ cho thấy sách không luận Thương Sứ biệt lập mà luôn đặt trong tổ hợp cung và sao.
Về thứ tự hạn, cũng sách này viết người đi xuôi là thuận đường, gặp Thiên Thương trước nên có phần nhẹ hơn người đi ngược phải gặp Thiên Sứ ngay bước đầu; sách ví Thiên Sứ như vị chánh sứ thi hành mệnh lệnh, còn Thiên Thương chỉ là phần phụ tá[2]. Đó là lời của Thiên Lương, ba sách còn lại không nói tới thứ tự này.
Những sao nào hóa giải được Thương Sứ?
Trong bốn sách, không sách nào có mục riêng về sao hóa giải Thương Sứ; lời bàn nằm rải ở phần luận chung. Tử Vi nghiệm lý toàn thư, ngoài Hóa Khoa và Ân Quang, Thiên Quý đã nêu ở trên, còn viết khi Thiên Quan ngồi chung với Thiên Sứ thì mọi sự khó khăn cũng dễ dàng hơn[2]. Tử Vi đẩu số tân biên, ở mục các sao cứu giải nói chung, kể Hóa Khoa có ảnh hưởng cứu giải khá mạnh, cùng Thiên Giải, Địa Giải, Giải Thần[1].
Tử Vi tổng hợp thì đặt điều kiện từ phía ngược lại: Thương Sứ đi với sát tinh mới tác họa[3]. Theo cách đọc của các sách này, Thương Sứ không phải một bản án cố định mà tùy vào các sao cùng hội trong lá số.
Gợi ý của Nhật Nguyệt
Khi tra lá số và thấy Thiên Thương ở Nô Bộc, Thiên Sứ ở Tật Ách, nên hiểu đây là hai vị trí cố định mà lá số nào cũng có, không phải dấu hiệu riêng của người xấu số. Việc cần làm là xem cung Nô Bộc và cung Tật Ách của lá số ấy được sao gì trấn giữ, có hội sát tinh hay không, rồi mới luận đến hạn.
Các mốc tuổi 53 và 67 là cách luận của riêng Tử Vi nghiệm lý toàn thư, không phải điều các sách cùng ghi. Lá số lập bằng tiện ích Tử Vi của Nhật Nguyệt có ghi cung Nô Bộc và cung Tật Ách; theo các sách, hai sao Thương Sứ nằm ở hai cung ấy. Các sách dùng Thương Sứ để xem hạn, không để phán định số phận, và bài này chỉ thuật lại để tra cứu.
Những điểm các sách không thống nhất
Có ít nhất ba điểm các sách ghi khác nhau. Thứ nhất là lý do Thiên Thương an ở Nô Bộc: Tử Vi nghiệm lý toàn thư lý giải theo trục thời gian và các mốc tuổi[2], còn Tử Vi đẩu số tân biên và Tử Vi áo bí biện chứng học chỉ ghi quy tắc an[1][4]. Thứ hai là ngũ hành: Tân biên ghi Thiên Thương hành Thổ, Thiên Sứ hành Thủy[1]; Áo bí ghi Thiên Thương dương Thủy, Thiên Sứ âm Thủy[4]. Thứ ba là hãm địa: Áo bí ghi Thiên Thương hãm ở Thìn, Ngọ, Mùi và Thiên Sứ hãm ở Sửu, Tuất[4], còn Tân biên không kê cung hãm cho hai sao này.
Bài này theo quy ước của Tử Vi đẩu số tân biên và Tử Vi áo bí biện chứng học cho phần an sao, và theo Tử Vi nghiệm lý toàn thư cho phần luận hạn theo tuổi. Đây là quy ước của các sách, không phải kết quả đo lường, nên người đọc nên xem như một cách hiểu trong môn Tử Vi, không phải kết luận về vận mệnh thật của bất kỳ ai.
