Nhật Nguyệt

Tri thức / Tây phương

Tâm lý học

Học chiêm tinh có làm người ta chắc chắn hơn về bản thân không? Chiêm tinh như cách tự khẳng định lúc khủng hoảng

Chia sẻ:
西
TL;DR: Lillqvist và Lindeman thực hiện một nghiên cứu nhỏ, công bố năm 1998, trong đó so sánh ba lớp học. Chỉ học viên lớp chiêm tinh cho thấy mức chắc chắn về tự mô tả và cảm giác tự chủ tăng lên, còn lớp tâm lý học và lớp tiếng Đức thì không. Số khủng hoảng cá nhân từng trải qua cũng đi đôi với mức quan tâm chiêm tinh cao hơn. Ngoài ra, dữ liệu lưu trữ Mỹ của Sales năm 1973 ghi nhận mức quan tâm chiêm tinh trên báo chí tăng trong giai đoạn nhiều đe doạ. Đây là bằng chứng mức B, mẫu nhỏ, thiết kế tương quan, chưa được lặp lại trên người Việt, nên chỉ nói lên chức năng tâm lý của việc học chiêm tinh, không nói lên độ chính xác của lời đoán.

Nhãn trong bài:Tư liệu lịch sửQuan niệm dân gianDiễn giải trường pháiChưa đủ bằng chứngCách đọc nhãn

Vì sao học chiêm tinh lại khiến người ta thấy chắc chắn hơn về bản thân?

Nếu coi chiêm tinh là một hệ thống mô tả tính cách thì câu hỏi về độ chính xác của nó đã được trả lời khá rõ trong các thử nghiệm mù đôi, và câu trả lời nghiêng về phía không đạt. Nhưng câu hỏi "vì sao nhiều người vẫn thấy việc học chiêm tinh giúp mình" lại là một câu hỏi khác, thuộc tâm lý học về chức năng chứ không phải về độ đúng. Hai câu hỏi này thường bị trộn vào nhau, và chính chỗ trộn ấy làm cuộc tranh luận quanh chiêm tinh trở nên khó đi tới.

Cách tách hai tầng câu hỏi này không phải một phát minh mới. Trong tâm lý học tôn giáo và tâm lý học về niềm tin, người ta từ lâu phân biệt giữa câu hỏi "niềm tin ấy có đúng không" và câu hỏi "niềm tin ấy làm gì cho người mang nó". Một niềm tin có thể sai về mặt mô tả mà vẫn có chức năng rõ ràng về mặt tâm lý: nó giúp người ta sắp xếp trải nghiệm, giảm cảm giác hỗn loạn, và cho một ngôn ngữ để nói về bản thân. Đó là khung để đọc ba nghiên cứu dưới đây.

Nghiên cứu về lớp học chiêm tinh nói gì?

Trong hướng nghiên cứu này, công trình được nhắc tới nhiều nhất thuộc về Outi Lillqvist và Marjaana Lindeman. Bài báo có tựa Belief in Astrology as a Strategy For Self-Verification and Coping With Negative Life-Events, do hai tác giả cho đăng trên European Psychologist vào năm 19981. Ba loại lớp học khác nhau được tác giả đem ra đối chiếu: lớp chiêm tinh, lớp tâm lý học và lớp tiếng Đức. Ở cả ba nhóm, người học tự chấm mức chắc chắn về bản thân hai lần, trước và sau khóa học.

Căn cứ vào phần tóm tắt lưu trong kho tư liệu, ba phương diện chỉ tăng ở nhóm theo học chiêm tinh, gồm độ chắc chắn khi tự mô tả, cảm giác tự chủ và cảm giác may mắn; hai nhóm còn lại không có thay đổi tương ứng1. Ngoài ra, nghiên cứu cũng ghi nhận rằng mức quan tâm chiêm tinh tỉ lệ thuận với số khủng hoảng cá nhân mà người tham gia từng trải qua1.

Loại tri thức: Tư liệuTư liệu lịch sử. Có văn bản, niên đại và nguồn; số chú thích đi kèm trỏ tới nguồn ấy. Năm loại nhãnVề cỡ mẫu, nghiên cứu chỉ gồm bốn mươi học viên thuộc ba lớp, và thiết kế không cho phép loại trừ hết các yếu tố gây nhiễu như kỳ vọng của người học hay đặc điểm sẵn có của người tự chọn vào lớp chiêm tinh1. Kết quả này chưa được lặp lại trên một mẫu độc lập trong nguồn đang có, nên đọc như một phát hiện gợi mở chứ không phải một kết luận đã chốt. Cũng phải nói rõ phạm vi dữ liệu: mẫu là học viên ở Phần Lan, thu thập vào khoảng giữa thập niên 1990, không thể suy thẳng cho người học chiêm tinh ở Việt Nam hôm nay.

Điều đáng chú ý về mặt cơ chế là tên gọi mà chính tác giả đặt cho hiện tượng: tự khẳng định, tức là quá trình người ta củng cố hình ảnh về bản thân bằng một nguồn bên ngoài. Một lớp học chiêm tinh, về mặt cấu trúc, là môi trường rất thuận cho việc này: người học được cho một bộ từ vựng có sẵn để mô tả mình, một cộng đồng cùng quan tâm, và một khung giải thích cho những giai đoạn khó khăn trong đời. Không cần hệ thống phải đoán đúng tính cách thì ba yếu tố ấy vẫn vận hành.

Quan tâm chiêm tinh có tăng lên trong giai đoạn nhiều đe doạ?

Nếu việc học chiêm tinh có chức năng xử lý khủng hoảng, thì ở mức xã hội, ta kỳ vọng mức quan tâm chiêm tinh tăng lên khi thời cuộc trở nên đe doạ hơn. Đây là giả thuyết mà Stephen M. Sales kiểm tra bằng dữ liệu lưu trữ ở Mỹ, công bố trên Journal of Personality and Social Psychology năm 1973, với tựa đề Threat as a factor in authoritarianism: An analysis of archival data2.

Cách làm của Sales là so sánh các chỉ số độc đoán giữa những giai đoạn được coi là nhiều đe doạ và ít đe doạ trong lịch sử Mỹ. Một trong các chỉ số ấy là mức quan tâm tới chiêm tinh phản ánh trên báo chí2. Căn cứ vào phần tóm tắt lưu trong kho tư liệu, các chỉ số độc đoán, trong đó có chiêm tinh, đều tăng trong thời kỳ đe doạ2.

Loại tri thức: Tư liệuTư liệu lịch sử. Có văn bản, niên đại và nguồn; số chú thích đi kèm trỏ tới nguồn ấy. Năm loại nhãnCần đọc kết quả này đúng tầm của nó. Đây là nghiên cứu lưu trữ, tức là tác giả đếm và so sánh những gì đã được in ra, chứ không đo trực tiếp niềm tin của từng cá nhân. Mức quan tâm trên báo chí là chỉ số gián tiếp, và nó chịu ảnh hưởng của cả thị hiếu toà soạn lẫn điều kiện kinh tế của ngành báo. Phạm vi dữ liệu là nước Mỹ, các giai đoạn được nêu gồm thập niên 1930 và các năm 1967 tới 19702; không có gì trong nguồn cho phép mở rộng kết luận sang bối cảnh khác.

Điểm đáng giá của nghiên cứu này là nó đặt chiêm tinh vào cùng một nhóm với các hiện tượng văn hoá khác, không đối xử với nó như một trường hợp đặc biệt. Khi người ta cảm thấy thế giới bớt kiểm soát được, nhu cầu về một khung giải thích có trật tự tăng lên, và chiêm tinh là một trong nhiều khung như vậy. Bài Lúc bất an người ta có tìm tới bói toán nhiều hơn không? đã đi sâu vào nhánh nghiên cứu về căng thẳng, cảm giác kiểm soát và nghi lễ; phần ở đây chỉ giữ lại đúng chỗ liên quan tới chiêm tinh, nên không nhắc lại.

Niềm tin vào vận may liên hệ với cảm giác khoẻ tinh thần thế nào?

Một nhánh nghiên cứu khác không hỏi về chiêm tinh trực tiếp mà hỏi về niềm tin vào vận may, thứ thường đi kèm với việc quan tâm chiêm tinh. Bài Belief in Good Luck and Psychological Well-Being: The Mediating Role of Optimism and Irrational Beliefs, do Liza Day và John Maltby cho đăng trên The Journal of Psychology vào năm 2003, thuộc nhánh này3.

Loại tri thức: Tư liệuTư liệu lịch sử. Có văn bản, niên đại và nguồn; số chú thích đi kèm trỏ tới nguồn ấy. Năm loại nhãnCăn cứ vào phần tóm tắt lưu trong kho tư liệu, nghiên cứu này khảo sát mối liên hệ giữa niềm tin vào vận may và sức khoẻ tinh thần tự báo, với hai biến trung gian được xác định là tính lạc quan và niềm tin phi lý, và mối liên hệ nói trên chạy qua chúng3. Thiết kế là tương quan cắt ngang, nghĩa là đo nhiều thứ ở cùng một thời điểm rồi xem chúng đi với nhau thế nào, không theo dõi người tham gia qua thời gian3.

Với thiết kế tương quan cắt ngang, thứ tự nhân quả không được xác lập. Có ít nhất ba cách đọc tương thích với dữ liệu: người lạc quan sẵn thì dễ tin vào vận may; người tin vào vận may nuôi được cách nhìn lạc quan hơn; hoặc cả hai cùng chịu ảnh hưởng của một yếu tố thứ ba nào đó. Bản thân nghiên cứu không phân xử giữa ba cách đọc này. Điều nó làm được là chỉ ra rằng mối liên hệ giữa niềm tin và cảm giác khoẻ tinh thần không trực tiếp, mà chạy qua các biến trung gian.

Cần nói rõ thêm một điểm về phạm vi: đây là nghiên cứu trên người trưởng thành ở Anh, và "sức khoẻ tinh thần" ở đây là tự báo, tức là người tham gia tự chấm cảm giác của mình, không phải đánh giá lâm sàng. Bài này chỉ trình bày nghiên cứu hành vi, không đưa ra lời khuyên nào về sức khoẻ hay cách chăm sóc bản thân.

Ba nghiên cứu này khác nhau ở đâu và chúng bổ sung cho nhau thế nào?

Ba nguồn không đo cùng một thứ. Bảng dưới đây tóm tắt phạm vi dữ liệu và kết quả mà mỗi nghiên cứu đưa ra, theo đúng những gì bản tóm tắt của kho tư liệu ghi lại. Ô nào nguồn không nói thì để trống.

Nghiên cứuPhạm vi dữ liệuThiết kếKết quả chính
Lillqvist và Lindeman (1998)1Học viên các lớp chiêm tinh, tâm lý học, tiếng Đức; mẫu nhỏSo sánh trước và sau khóa học giữa ba nhómNhóm học chiêm tinh tăng độ chắc chắn về tự mô tả, cảm giác tự chủ, cảm giác may mắn; mức quan tâm chiêm tinh tương quan với số khủng hoảng cá nhân
Sales (1973)2Dữ liệu lưu trữ ở Mỹ, gồm thập niên 1930 và 1967 tới 1970Phân tích dữ liệu lưu trữ, so sánh giai đoạn đe doạ và ít đe doạCác chỉ số độc đoán, gồm mức quan tâm chiêm tinh trên báo chí, tăng trong thời kỳ đe doạ
Day và Maltby (2003)3Người trưởng thành, nghiên cứu tại AnhTương quan cắt ngangNiềm tin vào vận may liên hệ với sức khoẻ tinh thần tự báo, đi qua tính lạc quan và niềm tin phi lý

Đọc theo cột, ta thấy ba nghiên cứu ăn khớp ở một điểm: chúng đều gợi rằng chiêm tinh và các niềm tin gần nó có liên quan tới việc xử lý cảm giác bất định. Nhưng chúng khác nhau ở đơn vị phân tích. Lillqvist và Lindeman nhìn cá nhân trong một khóa học ngắn. Sales nhìn xã hội qua nhiều thập niên. Day và Maltby nhìn mối liên hệ giữa các đặc điểm tâm lý ở một thời điểm. Ba tầng ấy không thay thế nhau, và cũng không cộng lại thành một bằng chứng mạnh hơn tổng của từng phần.

Chức năng tâm lý và độ chính xác của lời đoán khác nhau ở đâu?

Đây là chỗ dễ nhầm nhất. Một người đọc thấy Lillqvist và Lindeman ghi nhận học viên lớp chiêm tinh tự tin hơn về bản thân, rồi kết luận rằng chiêm tinh đoán đúng tính cách. Kết luận ấy không suy ra được từ dữ liệu. Một người khác thấy các thử nghiệm mù đôi không ủng hộ khả năng đoán tính cách từ lá số, rồi kết luận rằng học chiêm tinh chẳng có tác dụng gì. Kết luận ấy cũng không suy ra được.

Hai mệnh đề cần được tách ra và giữ tách:

  • Chiêm tinh có đoán đúng tính cách con người không? Đây là câu hỏi về độ chính xác, và câu trả lời dựa trên bằng chứng từ các thử nghiệm kiểm tra mù, không dựa trên trải nghiệm của người học.
  • Việc học và sử dụng chiêm tinh có chức năng tâm lý gì? Đây là câu hỏi về chức năng, và câu trả lời dựa trên các nghiên cứu như ba nghiên cứu ở trên.

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnMột cách đọc khác, thường được người trong giới chiêm tinh nêu, là các nghiên cứu kiểm tra mù chưa nắm được cách diễn giải theo trường phái, nên thất bại của chúng không nói lên điều gì về chiêm tinh đúng như nó được thực hành. Cách đọc này chưa có dữ liệu độc lập đủ để kết luận trong nguồn đang có, và giới nghiên cứu tâm lý chính thống nhìn khác: họ coi kết quả kiểm tra mù là bằng chứng trực tiếp về khả năng đoán, còn các giải thích theo trường phái là điều cần kiểm tra thêm chứ không phải điều miễn kiểm tra.

Hiệu ứng sinh ra từ niềm tin nên được gọi đúng tên

Có một loại hiệu ứng có thật nhưng không phải bằng chứng cho việc hệ thống đoán đúng. Khi một người tin vào điều gì đó, niềm tin ấy đổi hành vi của họ, và hành vi đổi kết quả. Ví dụ, người tin rằng giai đoạn này là giai đoạn nên chậm lại có thể thật sự chậm lại, ngủ đủ hơn, bớt nhận việc, và rồi thấy khoẻ hơn. Kết quả là thật. Nhưng nguyên nhân là hành vi đã đổi, không phải là lá số đã đoán đúng.

Cùng logic ấy áp cho cảm giác chắc chắn về bản thân. Khi một người được cho một bộ từ vựng để mô tả mình, và bộ từ vựng ấy được một cộng đồng cùng chia sẻ, người ấy có thêm phương tiện để kể câu chuyện về chính mình. Cảm giác chắc chắn tăng lên có thể đến từ việc có ngôn ngữ và có cộng đồng, chứ không đến từ việc bộ từ vựng ấy mô tả đúng một cách khách quan. Nói cách khác, hiệu ứng là thật, còn suy luận "vậy là chiêm tinh đoán đúng" là một bước nhảy không được dữ liệu đỡ.

Chỗ bằng chứng còn thiếu thì nên nói rõ

Cả ba nguồn trong bài đều ở mức chứng cứ B: kết quả chưa được lặp lại trên mẫu độc lập trong phạm vi tư liệu đang có, và mỗi nghiên cứu có giới hạn riêng về thiết kế hoặc về phạm vi dữ liệu123. Lillqvist và Lindeman có mẫu nhỏ và không loại trừ hết yếu tố gây nhiễu1. Sales dùng chỉ số gián tiếp qua báo chí và giới hạn ở nước Mỹ2. Day và Maltby dùng thiết kế tương quan cắt ngang, không xác lập được thứ tự nhân quả3.

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnChưa có nghiên cứu nào trong tư liệu này được thực hiện trên người Việt Nam. Mọi suy luận về người học chiêm tinh ở Việt Nam hiện chỉ là ngoại suy từ các mẫu ở Phần Lan, Mỹ và Anh, và ngoại suy ấy cần được kiểm tra bằng dữ liệu tại chỗ trước khi dùng làm căn cứ cho bất cứ điều gì.

Đọc kết quả này thế nào cho đúng?

Kết luận gọn nhất mà ba nguồn cho phép: việc học chiêm tinh có thể có chức năng tự khẳng định, và mức quan tâm chiêm tinh có thể tăng lên khi người ta trải qua khủng hoảng cá nhân hoặc sống trong giai đoạn nhiều đe doạ. Đây là những phát hiện ở mức B, mẫu nhỏ hoặc chỉ số gián tiếp, và chưa được kiểm chứng trên người Việt.

Loại tri thức: Trường pháiDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnVề phía chính hệ chiêm tinh, các trường phái có cách tự định nghĩa khác nhau về việc lá số làm được gì: có trường phái coi lá số là bản đồ khuynh hướng chứ không phải bản án, có trường phái coi trọng phần dự báo sự kiện hơn. Văn bản của chính hệ chỉ chứng minh hệ ấy nói gì, không chứng minh điều hệ ấy nói là đúng.

Loại tri thức: Dân gianQuan niệm dân gian. Điều người ta tin, kiêng hay truyền miệng, ghi lại như một niềm tin chứ không như một sự thật đã kiểm. Năm loại nhãnTrong dân gian, nhiều người vẫn xem việc tra cung hoàng đạo như một cách tự hiểu mình và hiểu người xung quanh, và với họ, giá trị của việc ấy nằm ở chỗ nó giúp ích trong quan hệ hằng ngày chứ không nằm ở chỗ nó đúng về mặt khoa học. Đó là một lý do thực tế khiến câu hỏi "xem cung hoàng đạo để làm gì" không trùng với câu hỏi "cung hoàng đạo có đúng không".

Cách đọc trung thực nhất là giữ cả hai câu hỏi cùng lúc, không để câu này lấn chỗ câu kia. Người học chiêm tinh có thể thật sự thu được điều gì đó về mặt tự hiểu mình; điều đó không biến chiêm tinh thành một công cụ đo tính cách đã được kiểm chứng, và cũng không làm giá trị trải nghiệm của họ trở nên ít thật hơn.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Học chiêm tinh có làm người ta chắc chắn hơn về bản thân không?

Lillqvist và Lindeman thực hiện một nghiên cứu nhỏ, công bố năm 1998, so sánh học viên lớp chiêm tinh với học viên lớp tâm lý học và lớp tiếng Đức. Chỉ nhóm học chiêm tinh cho thấy mức chắc chắn về tự mô tả, cảm giác tự chủ và cảm giác may mắn tăng lên. Kết quả này ở mức B, mẫu nhỏ, chưa được lặp lại trên mẫu độc lập, và chưa có nghiên cứu nào trên người Việt Nam.

Vì sao người trẻ thích chiêm tinh?

Dữ liệu lưu trữ ở Mỹ của Sales công bố năm 1973 ghi nhận mức quan tâm chiêm tinh trên báo chí tăng trong các giai đoạn nhiều đe doạ, và nghiên cứu của Lillqvist và Lindeman ghi nhận mức quan tâm chiêm tinh tương quan với số khủng hoảng cá nhân. Đây là bằng chứng tương quan ở mức B, không xác lập được quan hệ nhân quả, và không suy thẳng được cho người trẻ Việt Nam.

Niềm tin vào vận may có liên hệ gì với cảm giác khoẻ tinh thần?

Day và Maltby công bố năm 2003 một nghiên cứu tương quan cắt ngang trên người trưởng thành ở Anh. Theo đó, mối liên hệ giữa niềm tin vào vận may và sức khoẻ tinh thần tự báo chạy qua hai biến trung gian là tính lạc quan và niềm tin phi lý. Vì là thiết kế cắt ngang, nghiên cứu không xác lập được chiều nhân quả, và đây không phải cơ sở để đưa ra bất kỳ lời khuyên nào về sức khoẻ.

Bài viết liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefgOuti Lillqvist và Marjaana Lindeman (1998). Belief in Astrology as a Strategy For Self-Verification and Coping With Negative Life-Events. European Psychologist 3(3): 202-208, Tóm tắt bài báo, European Psychologist 3(3): 202-208Belief in Astrology as a Strategy For Self-Verification and Coping With Negative Life-Events
  2. ↑ abcdefgStephen M. Sales (1973). Threat as a factor in authoritarianism: An analysis of archival data. Journal of Personality and Social Psychology 28(1): 44-57, Tóm tắt bài báo, Journal of Personality and Social Psychology 28(1): 44-57Threat as a factor in authoritarianism: An analysis of archival data
  3. ↑ abcdefLiza Day và John Maltby (2003). Belief in Good Luck and Psychological Well-Being: The Mediating Role of Optimism and Irrational Beliefs. The Journal of Psychology 137(1): 99-110, Tóm tắt bài báo, The Journal of Psychology 137(1): 99-110Belief in Good Luck and Psychological Well-Being: The Mediating Role of Optimism and Irrational Beliefs
#ChiêmTinh#TâmLýHọcChiêmTinh#TựKhẳngĐịnh#CungHoàngĐạo#NiềmTinVậnMay#KhủngHoảngCáNhân#TâmLýHọcTâyPhương