Nhật Nguyệt

Tri thức / Tây phương

Tâm lý học

Lúc bất an người ta có tìm tới bói toán nhiều hơn không? Nghiên cứu về căng thẳng, kiểm soát và nghi lễ

Chia sẻ:
Lúc bất an người ta có tìm tới bói toán nhiều hơn không? Nghiên cứu về căng thẳng, kiểm soát và nghi lễ
TL;DR: Ở cấp quan sát, mối liên hệ giữa bất an và việc tìm tới bói toán, nghi lễ là khá vững: người sống ở vùng bị tấn công có tư duy ma thuật cao hơn, và mức mê tín trên báo chí tăng theo đe dọa kinh tế. Nhưng ở cấp thí nghiệm, giả thuyết cho rằng gây cảm giác mất kiểm soát sẽ làm người ta thấy quy luật ảo nhiều hơn đã không lặp lại được trong bảy thí nghiệm của van Elk và Lodder năm 2018. Bài này tách rõ hai tầng bằng chứng ấy và không suy ra cho người Việt khi chưa có nghiên cứu định lượng trên người Việt.

Nhãn trong bài:Diễn giải trường pháiChưa đủ bằng chứngCách đọc nhãn

Có đúng là khi khó khăn, người ta tin vào bói toán nhiều hơn không?

Câu trả lời ngắn: có bằng chứng tương quan khá vững cho việc người ta tìm tới bói toán và nghi lễ nhiều hơn khi bất an, nhưng giả thuyết cơ chế cho rằng "gây mất kiểm soát thì sinh ra mê tín" lại chưa đứng vững trong thí nghiệm. Hai tầng bằng chứng này thường bị gộp làm một, và chính chỗ gộp ấy tạo ra tranh cãi. Tầng quan sát nói về chuyện gì xảy ra trong đời sống, tầng thí nghiệm nói về chuyện gì xảy ra trong đầu người ta. Tầng thứ nhất khá chắc, tầng thứ hai còn mở.

Cần nói ngay một điều về giọng điệu: việc tìm tới nghi lễ khi khó khăn không phải là biểu hiện của yếu đuối. Nhiều nghiên cứu trong tâm lý học và nhân học coi đó là một cách ứng phó, một hành vi có chức năng trong bối cảnh bất định, chứ không phải một khuyết điểm nhận thức đơn thuần.

Malinowski và ngư dân Trobriand: làm phép khi ra khơi nguy hiểm

Bronislaw Malinowski, trong tiểu luận Magic, Science and Religion in trong tuyển tập Science, Religion and Reality do Joseph Needham chủ biên, Macmillan, New York, 1925, ghi nhận một quan sát đã trở thành kinh điển: ngư dân ở quần đảo Trobriand làm lễ và làm phép khi đánh cá ở vùng biển khơi nguy hiểm, nhưng không làm phép khi đánh cá trong phá nước yên ổn. Ông đặt quan sát ấy vào một lập luận rộng hơn: ma thuật xuất hiện ở chỗ kỹ thuật và hiểu biết không đủ để kiểm soát kết quả.

Cần nói rõ đây là gì và không là gì. Đây là một quan sát dân tộc chí ở một cộng đồng cụ thể, ghi chép ở một thời kỳ cụ thể, không phải một định luật tâm lý áp cho mọi người ở mọi nơi. Malinowski không đo mức mê tín, không so nhóm đối chứng, không kết luận về cá nhân. Ông mô tả một tương phản hành vi trong cùng một cộng đồng, giữa hai loại chuyến đi có mức rủi ro khác nhau. Chính vì thế nó là điểm khởi đầu cho giả thuyết, không phải bằng chứng khép lại giả thuyết.

Loại tri thức: Trường phái: MalinowskiDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnĐiểm đáng chú ý về mặt khái niệm: Malinowski phân biệt ma thuật với tôn giáo theo mục đích. Ma thuật, theo cách ông dùng, luôn nhắm tới một kết quả cụ thể, còn tôn giáo nguyên thuỷ biểu đạt trạng thái tinh thần như buồn, hy vọng, tuyệt vọng mà không theo đuổi mục đích thực dụng. Sự phân biệt này không tuyệt đối, vì việc thờ cúng thần linh cũng có mục đích thực dụng, nhưng nó hữu ích để biết ta đang nói về loại hành vi nào. Khi bài này nói "tìm tới bói toán", ta đang nói ở phía ma thuật, tức là phía nhắm tới kết quả.

Keinan 1994 và 2002: từ vùng bị tấn công tới thí nghiệm gõ gỗ

Giora Keinan, trong bài trên Journal of Personality and Social Psychology năm 1994, so sánh người sống ở khu vực bị tấn công bằng tên lửa với người sống ở khu vực ít bị đe dọa hơn, và ghi nhận nhóm thứ nhất có biểu hiện tư duy ma thuật cao hơn. Đây là một nghiên cứu tương quan theo bối cảnh: bối cảnh bất an cao đi kèm mức tư duy ma thuật cao. Nó không cho biết chiều nhân quả, và cũng không cho biết liệu bất an có làm tăng mê tín hay người vốn mê tín thì chịu đựng bất an tốt hơn.

Cũng chính Keinan, trong bài trên Personality and Social Psychology Bulletin năm 2002, tìm hiểu hành vi gõ gỗ và ghi nhận căng thẳng làm tăng hành vi này ở những người có nhu cầu kiểm soát cao. Đây là một bước chuyển quan trọng về mặt phương pháp: từ chỗ so sánh hai nhóm người trong hai bối cảnh, sang chỗ tác động lên trạng thái căng thẳng trong phòng thí nghiệm. Nhưng cần đọc kết quả đúng phạm vi của nó: tác động ấy được báo cáo là rõ hơn ở nhóm có nhu cầu kiểm soát cao, tức là có điều kiện đi kèm, chứ không phải một hiệu ứng phẳng cho mọi người.

Hai nghiên cứu của Keinan đứng ở hai tầng khác nhau. Nghiên cứu 1994 là tầng quan sát, nghiên cứu 2002 là tầng thí nghiệm. Khi ai đó trích "Keinan chứng minh căng thẳng làm tăng mê tín", họ đang gộp hai tầng ấy. Cách nói đúng hơn là: một nghiên cứu ghi nhận tương quan giữa bối cảnh bị đe dọa và tư duy ma thuật, một nghiên cứu khác ghi nhận căng thẳng trong phòng thí nghiệm làm tăng một hành vi mê tín cụ thể ở nhóm người có nhu cầu kiểm soát cao.

Dữ liệu lưu trữ báo chí: nước Đức 1918 đến 1940 và nước Mỹ thời khủng hoảng

Vernon R. Padgett và Dale O. Jorgenson, trong bài trên Personality and Social Psychology Bulletin năm 1982, phân tích nội dung báo chí nước Đức giai đoạn 1918 đến 1940 và cho rằng mức độ đe dọa kinh tế dự báo mức mê tín xuất hiện trên báo. Đây là một cách tiếp cận khác hẳn: không hỏi người sống, không tác động lên người, mà đếm những gì được viết ra trong một khoảng thời gian dài. Cách này có ưu điểm là phủ được nhiều thập kỷ, nhưng có nhược điểm là cái được đếm là nội dung báo chí, không phải niềm tin của dân chúng.

Cách tiếp cận tương tự còn được dùng cho nước Mỹ trong các giai đoạn khủng hoảng, với ý tưởng chung là mức mê tín trên báo chí thay đổi theo chu kỳ kinh tế. Cần nói rõ đây là bằng chứng ở mức B: có người đề xuất và có kết quả, nhưng chưa phải một khối kết quả đã được lặp lại nhiều lần tới mức giới nghiên cứu coi là đóng lại. Ngoài ra, phạm vi dữ liệu phải được ghi ngay trong câu: nước Đức giai đoạn 1918 đến 1940, nước Mỹ trong các giai đoạn khủng hoảng cụ thể, đều là dữ liệu lịch sử ở nước ngoài, không phải dữ liệu về người Việt.

Một nghiên cứu kinh tế về giá trị của mê tín cũng đi theo hướng này. Nghiên cứu về giá đấu giá biển số xe ở Hồng Kông ghi nhận giá trị gắn cho số được coi là may mắn và số được coi là xui thay đổi theo môi trường kinh tế vĩ mô, và thay đổi không đối xứng giữa phía may mắn và phía xui xẻo. Kết quả này nói về thị trường biển số ở Hồng Kông, không nói về hành vi bói toán ở Việt Nam. Nó hữu ích như một minh chứng rằng niềm tin mê tín có thể để lại dấu vết trong dữ liệu kinh tế, chứ không chỉ nằm trong lời kể.

Vì sao thí nghiệm "gây mất kiểm soát" không lặp lại được?

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnỞ đây câu chuyện đổi chiều. Jennifer A. Whitson và Adam D. Galinsky, trong bài trên Science năm 2008, báo cáo rằng khi bị làm cho cảm thấy mất kiểm soát, người tham gia nhận ra quy luật ảo trong các mẫu ngẫu nhiên nhiều hơn. Đây là mức B: có người đề xuất và có báo cáo, nhưng chưa được lặp lại vững chắc.

Michiel van Elk và Paul Lodder, trong bài trên Collabra: Psychology năm 2018, chạy bảy thí nghiệm nhằm tái lập hiệu ứng ấy và không lặp lại được: thao tác làm giảm cảm giác kiểm soát cá nhân không làm tăng nhận thức quy luật ảo. Đây là mức A ở phương diện khác: một thất bại tái lập được báo cáo công khai, có nhiều thí nghiệm độc lập với nhau, và kết quả đi ngược lại kỳ vọng ban đầu. Khi một hiệu ứng không lặp lại được trong nhiều thí nghiệm, cách nói đúng là hiệu ứng ấy chưa đứng vững, chứ không phải nó đã bị chứng minh là sai trong mọi điều kiện.

Điều này không phủ nhận tầng quan sát. Việc người ta tìm tới nghi lễ nhiều hơn khi bất an vẫn có bằng chứng ở cấp dân tộc chí và cấp tương quan. Cái bị hạ bệ là một cơ chế cụ thể được đề xuất để giải thích tầng quan sát ấy: rằng mất kiểm soát sinh ra nhận thức quy luật ảo, và nhận thức quy luật ảo sinh ra mê tín. Chuỗi nhân quả ấy có thể đúng một phần, có thể cần điều kiện khác, hoặc có thể không phải là cơ chế chính. Hiện tại, chưa có cơ sở để khẳng định nó là cơ chế chính.

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnCó một nhánh giải thích khác đáng lưu ý nhưng chưa đủ bằng chứng để kết luận: một số tác giả cho rằng khuynh hướng hành vi mê tín có thể có gốc tiến hoá, vì trong môi trường mà việc gán sai nhân quả đôi khi rẻ hơn việc bỏ sót một mối nguy thật. Đây là lập luận lý thuyết và mô hình, không phải kết quả thực nghiệm trên người, nên chỉ nên đọc như một hướng giả thuyết.

Bảng đối chiếu các nghiên cứu chính

Nghiên cứuPhạm vi dữ liệuCách làmKết quả chínhMức chứng cứ
Malinowski 1925Ngư dân Trobriand, ghi chép đầu thế kỷ 20Quan sát dân tộc chíLàm phép khi ra khơi nguy hiểm, không làm khi đánh cá trong pháA (quan sát kinh điển, không phải thí nghiệm)
Keinan 1994Người ở vùng bị tấn công bằng tên lửaSo sánh nhóm theo bối cảnhNhóm bị đe dọa có tư duy ma thuật cao hơnA (tương quan)
Keinan 2002Người tham gia thí nghiệmTác động căng thẳngCăng thẳng làm tăng hành vi gõ gỗ ở người có nhu cầu kiểm soát caoA (thí nghiệm, có điều kiện kèm theo)
Padgett và Jorgenson 1982Báo chí Đức 1918 đến 1940Phân tích nội dung lưu trữĐe dọa kinh tế dự báo mức mê tín trên báoB (chưa lặp lại vững)
Whitson và Galinsky 2008Người tham gia thí nghiệmGây mất kiểm soátBáo cáo mất kiểm soát tăng nhận thức quy luật ảoB (không lặp lại được)
van Elk và Lodder 2018Người tham gia, bảy thí nghiệmTái lập thao tác mất kiểm soátKhông lặp lại được hiệu ứngA (thất bại tái lập)
Salemink 2010Việt Nam đương đạiPhân tích nhân học"An ninh tinh thần" giải thích việc tìm tới lên đồng trong bối cảnh bất anA (nghiên cứu chuyên ngành)

Ở Việt Nam thì sao?

Loại tri thức: Trường phái: SaleminkDiễn giải trường phái. Cách hiểu của một phái hay một cuốn sách; phái khác có thể hiểu khác. Năm loại nhãnOscar Salemink, trong chương Ritual Efficacy, Spiritual Security and Human Security: Spirit Mediumship in Contemporary Vietnam in trong A World of Insecurity do T. H. Eriksen, E. Bal và O. Salemink chủ biên, Pluto Press, 2010, phân tích việc tìm tới lên đồng ở Việt Nam đương đại qua khái niệm "an ninh tinh thần", và cho rằng việc tìm kiếm an ninh tinh thần qua thực hành tôn giáo và ma thuật thường diễn ra khi những bất an không giải quyết được bằng các phương thức khác. Ông đặt khái niệm này trong một khung rộng hơn, gọi là an toàn hiện sinh, mở rộng từ khái niệm an ninh con người vốn thường được định nghĩa theo các khía cạnh kinh tế, chính trị, thể lý hay sinh thái.

Salemink nêu bốn dạng bất an cần tới điều chỉnh tinh thần: vấn đề sức khỏe thể lý và tinh thần cần chữa trị; bất an về kinh tế và rủi ro thị trường, tức là tìm kiếm vận may; bất an hiện sinh liên quan tới cái chết; và chủ ý đón nhận rủi ro cùng quản lý rủi ro. Ông cũng xem các hành xử tôn giáo như một cách xác lập bản sắc cá nhân ở Việt Nam.

Đây là nghiên cứu nhân học, không phải nghiên cứu định lượng. Nó cho ta một khung khái niệm để hiểu vì sao người ta tìm tới nghi lễ, dựa trên quan sát và phỏng vấn, chứ không đưa ra con số về tỷ lệ người đi xem bói theo từng giai đoạn kinh tế. Ở thời điểm hiện tại, chưa có dữ liệu định lượng Việt Nam về số người đi xem bói biến thiên theo chu kỳ kinh tế. Đây là một khoảng trống thật, và nên nói rõ là khoảng trống, thay vì lấp bằng suy đoán từ dữ liệu nước ngoài.

Một nghiên cứu khác về Việt Nam đi theo hướng hẹp hơn: tìm kiếm an ninh tinh thần trong giao thông, tức là các hành vi tôn giáo và ma thuật nhằm kiểm soát rủi ro khi đi lại trong điều kiện giao thông phức tạp. Cách tiếp cận này không nói về bói toán nói chung, mà nói về một lĩnh vực cụ thể nơi rủi ro thể lý và nhu cầu kiểm soát gặp nhau. Nó phù hợp với lập luận Malinowski: nghi lễ xuất hiện ở chỗ kỹ thuật không đủ kiểm soát kết quả.

Hiệu ứng có thật mà sinh ra từ niềm tin thì gọi là gì?

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnCó một loại hiệu ứng cần được nói đúng tên. Khi một người tin rằng một hành vi sẽ đem lại kết quả, niềm tin ấy có thể đổi hành vi của họ, và hành vi đổi thì kết quả có thể đổi theo. Ví dụ, người tin rằng một nghi lễ giúp mình bình tĩnh có thể thực sự bình tĩnh hơn, và sự bình tĩnh ấy đổi cách họ xử lý tình huống. Hiệu ứng này có thật, và nó không phải là bằng chứng rằng nghi lễ đoán đúng điều gì về tương lai.

Cách nói đúng là: đây là hiệu ứng sinh ra từ niềm tin và hành vi, không phải từ năng lực tiên đoán. Không nên gọi đó là "hệ ấy đoán đúng", vì như thế là gán cho nghi lễ một năng lực mà dữ liệu không chống đỡ. Cũng không nên phủ nhận hiệu ứng, vì như thế là bỏ qua một phần thực tế của đời sống tinh thần. Tách hai điều ấy ra là điều kiện để bàn về chủ đề này mà không rơi vào cả hai thái cực.

Vì sao tầng quan sát và tầng thí nghiệm lại lệch nhau?

Có vài cách giải thích hợp lý cho khoảng lệch này, và chúng không loại trừ nhau.

Thứ nhất, thí nghiệm đo một thứ hẹp hơn nhiều so với đời sống. Nhận thức quy luật ảo trong một mẫu ngẫu nhiên trên màn hình là một nhiệm vụ rất khác với việc quyết định đi lễ hay đi xem bói sau một biến cố lớn. Thao tác trong phòng thí nghiệm kéo dài vài phút; bất an trong đời sống kéo dài hàng tháng hoặc hàng năm.

Thứ hai, tầng quan sát có thể bị nhiễu bởi những thứ khác ngoài cảm giác kiểm soát. Bối cảnh kinh tế xấu đi có thể làm tăng nhu cầu cộng đồng, tăng thời gian rảnh, tăng mức độ được phép bày tỏ niềm tin, hoặc đơn giản là làm cho chủ đề ấy được nói tới nhiều hơn trên báo chí. Mỗi yếu tố này đều có thể tạo ra tương quan mà không cần tới cơ chế "mất kiểm soát sinh ra quy luật ảo".

Loại tri thức: Chưa đủ bằng chứngChưa đủ bằng chứng. Có người nêu, nhưng chưa có nguồn hay nghiên cứu đủ để khẳng định. Năm loại nhãnThứ ba, có thể cơ chế đúng không phải là mất kiểm soát nói chung, mà là một dạng mất kiểm soát cụ thể, chẳng hạn mất kiểm soát trước một nguy cơ có thể gây hại cho bản thân hoặc người thân. Đây là giả thuyết, chưa có kết quả khép lại.

Những gì bài này không nói

Bài này không nói rằng bói toán là đúng hay sai, không nói rằng người tin là thiếu hiểu biết, và không nói rằng mọi nghi lễ đều là mê tín. Nó cũng không nói rằng người Việt tin bói toán nhiều hơn hay ít hơn người nước khác, vì không có dữ liệu so sánh như vậy trong các nguồn được dùng ở đây.

Điều bài này nói là: khi nhìn vào dữ liệu, ta thấy hai tầng khác nhau với độ chắc khác nhau. Tầng quan sát, gồm dân tộc chí và tương quan theo bối cảnh, khá vững và cho thấy bất an đi kèm việc tìm tới nghi lễ nhiều hơn. Tầng thí nghiệm, tức là giả thuyết cho rằng gây mất kiểm soát sẽ trực tiếp làm tăng mê tín qua nhận thức quy luật ảo, chưa đứng vững. Giữ hai điều ấy tách nhau là cách đọc trung thực nhất hiện có.

Về phần người trẻ và chuyện đi xem bói, phần áp lực, bất định và hiệu ứng Barnum đã được bàn ở một bài khác của site, xem Vì sao người trẻ đi xem bói: áp lực, bất định và thứ tâm lý học gọi là hiệu ứng Barnum. Bài đang đọc ở đây tập trung vào phần bằng chứng và phần phản bác, không lặp lại nội dung của bài kia.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Có bằng chứng nào cho thấy bất an làm người ta tìm tới bói toán nhiều hơn không?

Có, ở cấp quan sát. Malinowski ghi nhận ngư dân Trobriand làm phép khi ra khơi nguy hiểm nhưng không làm khi đánh cá trong phá. Keinan năm 1994 ghi nhận người ở vùng bị tấn công bằng tên lửa có tư duy ma thuật cao hơn. Padgett và Jorgenson năm 1982 ghi nhận đe dọa kinh tế dự báo mức mê tín trên báo chí Đức giai đoạn 1918 đến 1940. Đây là tương quan và quan sát, không phải bằng chứng nhân quả.

Vì sao thí nghiệm gây mất kiểm soát để làm tăng mê tín không lặp lại được?

Whitson và Galinsky năm 2008 báo cáo rằng mất kiểm soát làm tăng nhận thức quy luật ảo. Van Elk và Lodder năm 2018 chạy bảy thí nghiệm tái lập và không lặp lại được hiệu ứng này. Một hiệu ứng không lặp lại được trong nhiều thí nghiệm thì chưa đứng vững, chứ không có nghĩa là đã bị chứng minh sai trong mọi điều kiện.

Ở Việt Nam đã có dữ liệu định lượng về việc đi xem bói theo chu kỳ kinh tế chưa?

Chưa có trong các nguồn được dùng ở đây. Salemink phân tích việc tìm tới lên đồng ở Việt Nam qua khái niệm an ninh tinh thần, nhưng đó là nghiên cứu nhân học dựa trên quan sát và phỏng vấn, không đưa ra con số về tỷ lệ người đi xem bói biến thiên theo chu kỳ kinh tế. Đây là một khoảng trống dữ liệu thật.

Bài viết liên quan

Nguồn tham khảo

  1. malinowski 1925 magic science religion
  2. nguyen dang huu 2016 tam linh ma thuat giao thong
  3. matute 2015 illusions of causality
  4. fasce 2017 what we mean pseudoscience
  5. pennycook 2015 pseudo profound bullshit
  6. wiseman 2004 measuring superstitious belief
  7. foster 2009 evolution superstitious behaviour
  8. ng 2010 value of superstitions
  9. mocan 2017 superstition self fulfilling dragon children
  10. van elk 2015 perceptual biases paranormal
#TâmLýHọc#MêTín#BóiToán#NghiLễ#BấtAn#KiểmSoátTâmLý#Malinowski#TưDuyMaThuật#AnNinhTinhThần#LênĐồng