
TL;DR: Tết Nguyên Đán là lễ hội lớn nhất trong năm của người Việt, gắn liền với nhiều phong tục như cúng ông Công ông Táo (23 tháng Chạp), cúng tất niên và giao thừa, xông đất, chúc Tết, mừng tuổi; đêm trừ tịch xưa còn có tục đi lễ chùa đình đền, kén hướng xuất hành, hái lộc, đốt pháo, và Tết thường khép lại bằng lễ hóa vàng cùng lễ khai hạ (hạ nêu) vào mồng bảy tháng Giêng.
Tết Nguyên Đán là gì?
Tết Nguyên Đán (thường gọi tắt là Tết) là lễ hội cổ truyền lớn nhất của người Việt Nam, đánh dấu thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới theo lịch âm. "Tết" bắt nguồn từ "Tiết" (thời tiết/thời điểm), "Nguyên Đán" nghĩa là buổi sáng đầu tiên. Tết thường kéo dài từ 23 tháng Chạp (âm lịch) đến hết mùng 7 tháng Giêng, với nhiều nghi lễ, phong tục đặc trưng.
Bảng tóm tắt các nghi lễ và phong tục Tết Nguyên Đán của người Việt theo thời điểm và ý nghĩa.
| Nghi lễ, phong tục | Thời điểm | Ý nghĩa chính |
|---|---|---|
| Cúng ông Công, ông Táo | 23 tháng Chạp | Tiễn Táo Quân về trời báo cáo việc trong nhà với Ngọc Hoàng |
| Cúng Tất Niên | Chiều 30 Tết | Tổng kết năm cũ, mời tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu |
| Cúng Giao Thừa | Giờ Tý, 23h-1h | Tiễn quan hành khiển năm cũ, đón quan hành khiển năm mới |
| Xông đất | Sau thời khắc giao thừa | Người hợp tuổi, hợp mệnh, vui vẻ, làm ăn phát đạt mang lại may mắn cho cả năm |
| Chúc Tết và mừng tuổi | Những ngày đầu năm | Chúc may mắn, sức khỏe đầu năm, không đặt nặng giá trị vật chất |
| Kiêng kỵ ngày Tết | Ngày Tết | Tránh quét nhà, cãi vã, nói điều xui, cho lửa nước, mặc đồ trắng đen toàn bộ |
Cúng ông Công, ông Táo (23 tháng Chạp) là gì?
Theo tín ngưỡng dân gian, ngày 23 tháng Chạp hàng năm là ngày Táo Quân (3 vị thần bếp) cưỡi cá chép bay về trời báo cáo việc trong nhà với Ngọc Hoàng. Các gia đình thường làm lễ cúng tiễn ông Công ông Táo, phóng sinh cá chép, dọn dẹp bàn thờ và nhà cửa để chuẩn bị đón năm mới.
Cúng Tất Niên và Giao Thừa có ý nghĩa gì?
Cúng Tất Niên (thường vào chiều 30 Tết) là lễ cúng tổng kết năm cũ, mời tổ tiên về ăn Tết cùng con cháu. Cúng Giao Thừa được thực hiện vào đúng thời khắc chuyển giao giữa năm cũ và năm mới (giờ Tý, 23h-1h), gồm mâm cúng ngoài trời (tiễn quan hành khiển năm cũ, đón quan hành khiển năm mới) và mâm cúng trong nhà.
Theo Toan Ánh (2001), cúng gia tiên vào chiều ba mươi Tết rồi thì đến lúc giao thừa thường không cúng gia tiên nữa. Cũng theo Toan Ánh (2001), sau lễ cúng gia tiên chiều ba mươi Tết, nhà còn cúng gia tiên vào sáng mồng một và ngày mồng hai, mỗi ngày hai buổi, cho tới khi hóa vàng. Đây là cách nhiều gia đình miền Bắc sắp xếp các tuần hương ngày Tết; tùy nếp từng nhà mà có thể khác đi.
Xông đất (Xông nhà) là gì?
Người đầu tiên bước vào nhà sau thời khắc giao thừa được gọi là người "xông đất". Theo quan niệm dân gian, người xông đất hợp tuổi, hợp mệnh với gia chủ, tính tình vui vẻ, làm ăn phát đạt sẽ mang lại may mắn cho cả năm. Nhiều gia đình chủ động nhờ người hợp tuổi đến xông đất đầu năm.
Toan Ánh (2001) chép rằng khi nhà không có ai tự xông đất lấy thì người ta kén người xông nhà, thường chọn người đàn ông nhanh nhẹn, được cho là tốt vía, đến sáng mồng một. Người đến xông nhà thường đốt pháo mừng và chúc nhà chủ những điều may mắn quanh năm, nhà chủ chúc tụng lại và cảm ơn khách. Việc chọn người theo tuổi hay theo vía là quan niệm dân gian, không phải sự thật được kiểm chứng.
Chúc Tết và mừng tuổi (lì xì) có ý nghĩa gì?
Trong những ngày đầu năm, con cháu thường đến chúc Tết ông bà, cha mẹ, họ hàng; người lớn mừng tuổi trẻ nhỏ (và người già) bằng tiền đựng trong phong bao đỏ (lì xì), tượng trưng cho lời chúc may mắn, sức khỏe đầu năm chứ không đặt nặng giá trị vật chất.
Kiêng kỵ ngày Tết gồm những gì?
Người Việt có nhiều điều kiêng kỵ trong ngày Tết như: kiêng quét nhà (sợ quét mất tài lộc), kiêng cãi vã/nói điều xui, kiêng cho lửa/nước đầu năm, kiêng mặc đồ trắng/đen toàn bộ (thường gắn với tang chế). Đây là các quan niệm dân gian mang tính vùng miền, không phải quy tắc bắt buộc.
Đêm giao thừa và mấy ngày đầu năm xưa có những tục gì?
Đêm trừ tịch xưa, theo Toan Ánh (2001), người ta đi lễ chùa, đình, đền, miếu; kén hướng xuất hành; hái lộc; xông nhà và đốt pháo. Đây là những tục gắn với niềm tin đầu năm, không phải việc bắt buộc.
Về tục hái lộc, Toan Ánh (2001) ghi rằng sau khi đi lễ đình, chùa, miếu, điện, người ta bẻ một cành cây mang về, gọi là cành lộc, ngụ ý lấy lộc của Trời Đất Phật Thánh ban cho, rồi cắm trước bàn thờ cho đến khi cành tàn khô. Cành lộc tượng trưng cho điều tốt lành, may mắn quanh năm. Cũng trong sách này, tác giả phê phán việc nhiều người đi lễ trong đêm trừ tịch mà mang cả dao búa đi đẵn cây trong vòng các đình, đền, chùa, miếu, cho rằng làm vậy là biến tục lệ tốt đẹp thành tai hại cho nơi thờ tự. Đó là lời nhận định của tác giả về một thực trạng, không phải cổ vũ tục chặt cành.
Cũng theo Toan Ánh (2001), có nhiều người không xuất hành trong đêm giao thừa mà kén ngày tốt, giờ tốt trong mấy ngày đầu năm, đi theo hướng chỉ dẫn trong các cuốn lịch đầu năm, với niềm tin sẽ có một năm may mắn. Người làm ăn quanh năm phải ra đi thường chọn ngày giờ để xuất hành, đi khỏi đất làng xã mình, ít nhất cũng ra khỏi thôn mình, và chọn hướng hợp; ra đi theo một hướng tốt, lúc về theo một hướng khác. Việc kiêng xuất hành nghịch hướng vì sợ gặp điều không may trong năm là quan niệm dân gian, không phải điều đã được chứng minh.
Tết kết thúc khi nào: hóa vàng và khai hạ?
Tết Nguyên Đán thường khép lại bằng lễ hóa vàng và lễ khai hạ (hạ nêu), nhưng thời điểm cụ thể không cố định, tùy từng nhà và từng vùng.
Phan Kế Bính (1915, đã có trong tham khảo) ghi tục hóa vàng vào ngày mồng bốn; nếu ngày ấy xấu hay chạm tuổi chủ nhà thì xê dịch, có nhà để tới mồng bảy. Vì vậy không nên khẳng định chỉ có một ngày hóa vàng duy nhất cho mọi gia đình. Bùi Xuân Mỹ (2001) cũng cho biết nhiều nhà kéo dài việc thờ phụng trong nhà đến lễ Khai hạ, và sau khi hóa vàng thì việc cúng dọn ngày Tết trong các gia đình coi như tạm ổn.
Về lễ khai hạ, Phan Kế Bính (1915) ghi mồng bảy tháng Giêng hạ cây nêu, gọi là khai hạ. Toan Ánh (2001) chép cây nêu được trồng trong năm, khi sửa soạn đón Tết thì dựng cùng cung tên vẽ bằng vôi trắng trước cửa nhà để trừ ma quỷ, và sau lễ hạ nêu mọi công việc thường xuyên mới bắt đầu, tuy ở vùng quê người ta vẫn còn ăn chơi vì tháng Giêng là tháng ăn chơi và công việc đồng áng đã vợi. Việc dựng nêu, vẽ cung tên để trừ ma quỷ là quan niệm dân gian, không phải sự thật về ma quỷ.
Theo Bùi Xuân Mỹ (2001), sách Chiêm tuế sự thư ghi nhận rằng trong tháng đầu năm, ngày mồng một ứng với con gà, mồng hai ứng với con chó, mồng ba ứng với con lợn, mồng bốn ứng với con dê, mồng năm ứng với con trâu, mồng sáu ứng với con ngựa, mồng bảy ứng với con người, còn mồng tám là ngày của lúa. Theo tác giả, đây là cách bói nghiệm vào đầu tháng Giêng: với mỗi giống, nếu ngày tương ứng tạnh ráo thì cả năm giống ấy được tốt; riêng mồng bảy, trời sáng sủa, không mưa gió khiến người ta tin rằng con người cả năm được mạnh khỏe, nên mở tiệc ăn mừng, và về sau dù trời mưa, cứ mồng bảy là mở tiệc.. Cỗ mặn với đủ món là lễ vật dâng cúng; con cháu quây quần đông đủ bởi đây chính là bữa ăn Tết sau cùng.. Cách giải thích tám ngày ứng với tám giống là lối bói thời tiết đầu năm được ghi lại thành quan niệm, không phải quy luật.
