
TL;DR: Tục mừng tuổi ngày Tết có chung ý nghĩa chúc phúc trên cả nước; chỗ khác nhau các nguồn ghi được là tên gọi và vài lệ đi kèm. Miền Bắc xưa chỉ nói mừng tuổi, còn từ lì xì gốc Quảng Đông đi từ miền Nam ra Bắc sau năm 1975. Ở Huế có lệ mừng tuổi ông bà tại nhà thờ tộc sau lễ cúng cỗ chay; Nam Bộ xưa có tục bậc cao tuổi mặc bộ quần áo điều để con cháu lạy mừng tuổi. Phong bao và số tiền không có quy chuẩn theo miền.
Lì xì và mừng tuổi khác nhau ở đâu?
Lì xì và mừng tuổi cùng chỉ một việc: người lớn, bậc trên trao cho trẻ nhỏ hoặc người dưới một phong bao đỏ kèm lời chúc đầu năm. Sự khác nhau nằm ở tên gọi và ở nguồn gốc từ ngữ, chứ không nằm ở bản chất nghi lễ.
Ở miền Bắc, cách nói quen thuộc từ xưa là mừng tuổi. Sách vở xưa ghi lại chuyện mừng tuổi đầu năm cho trẻ bằng những đồng xu mới, không có phong bao. Đến thời bao cấp, các gia đình vẫn tìm cách đổi những đồng tiền mới nhất để mừng tuổi cho trẻ[3].
Từ lì xì vào miền Bắc muộn hơn. Theo ghi nhận của báo chí, sau ngày đất nước thống nhất năm 1975, nhiều từ ngữ miền Nam được du nhập ra miền Bắc, trong đó có lì xì, và đến nay cụm từ này được dùng ở cả nước[3].
Theo cách giải thích của giới ngôn ngữ, lì xì là cách đọc âm tiếng Quảng Đông của từ có âm Hán Việt là lợi thị, nghĩa là chúc vận may, tốt lành[3]. Tục này bắt nguồn từ phong tục của người Hoa ở miền Nam mừng tuổi nhau, rồi lan ra cộng đồng người Việt[3].
Ai mừng tuổi cho ai và mừng lúc nào?
Các nguồn tả người trao và người nhận giống nhau ở mọi nơi: bậc trên mừng tuổi bậc dưới, người đã đi làm biếu lại ông bà, cha mẹ. Lệ riêng theo vùng chỉ được ghi ở Huế và ở Nam Bộ xưa.
Theo phong tục dân gian, tục mừng tuổi thường bắt đầu sau giao thừa và kéo dài cho tới khi hết ngày nghỉ Tết. Người lớn, ông bà cha mẹ, anh em, chú bác, anh chị mừng tuổi cho các con các cháu; khách tới chơi nhà cũng được chủ mừng tuổi và ngược lại. Con cháu đã đi làm và có thu nhập thì biếu ông bà, cha mẹ những phong bao đỏ để chúc sức khỏe[4].
Theo sách Khảo luận về Tết của Huỳnh Ngọc Trảng, sau lễ cúng tổ tiên sáng mùng một, con cháu chúc Tết ông bà, cha mẹ. Các bậc cao niên ngồi trên sập, trên bộ ván hoặc ghế tựa trước bàn thờ để con cháu chúc Tết[1]. Trẻ con được ông bà, cha mẹ cho tiền, gọi là tiền mừng tuổi, đựng trong bao lụa vải màu đỏ, sau này phổ biến là tiền lì xì đựng trong bao giấy màu mè đa dạng với nhiều đồ án trang trí, ngụ ý những lời chúc mừng cát tường như ý[1].
Ở Huế, sau khi cúng xong là mở cửa tiếp khách, đi chùa, đi viếng mộ tổ tiên, đi thắp hương, mừng tuổi ông bà ở nhà thờ tộc và thăm viếng ông bà, cha mẹ bên nội, bên ngoại[1]. Lệ cúng tổ tiên ngày Nguyên đán ở Huế dùng cỗ chay, vì đa phần cư dân nơi đây theo Phật giáo[1].
Về Nam Bộ xưa, sách Khảo luận về Tết ghi lại một tục riêng: khi ông bà đã cao tuổi, con cháu chuẩn bị việc hiếu sự chu đáo, trong đó có bộ quần áo điều màu đỏ. Bộ quần áo điều được các bậc cao tuổi mặc vào dịp đầu năm để con cháu mừng tuổi. Con cháu từ lớn đến nhỏ đều cúi đầu lạy, mừng ông bà đã được thêm một tuổi và chúc: Năm cũ bước qua năm mới, con cháu kính chúc ông bà bách niên giai lão[1].
Phong bao và số tiền mừng tuổi có khác nhau theo miền không?
Phong bao thì gần như thống nhất: bao giấy màu đỏ, về sau thêm vàng, hồng và nhiều đồ án trang trí. Số tiền bên trong mới là chỗ các nơi hiểu khác nhau.
Tiền mừng tuổi có nơi chuộng tiền lẻ, hiểu ý tiền lẻ sẽ sinh sôi nảy nở thêm. Lại có nơi chuộng tiền lì xì là một tờ nguyên, coi số lẻ là điềm đem lại bất hạnh[1]. Sách Khảo luận về Tết ghi hai cách hiểu này song song, không nói nơi nào chuộng cách nào.
Phần đông, các bậc chú bác, cô dì thường cho tiền mừng tuổi cho cháu. Khi đi chúc Tết, người ta luôn sắm sẵn các bao đựng tiền lì xì để mừng tuổi cho trẻ con. Ngược lại, khi có khách đến nhà chúc Tết, có cháu con nhỏ đi kèm, chủ nhà cũng lì xì cho bọn trẻ, gọi là để cháu hay ăn chóng lớn, học hành thông minh, chăm ngoan[1].
Ở miền Tây Nam Bộ, theo một bài của báo Cần Thơ, ngày mùng 1 ngoài việc cúng ông bà tổ tiên, người trong nhà còn mừng tuổi nhau: con cháu mừng tuổi ông bà và chúc sức khỏe dồi dào, người lớn tuổi lì xì cho con cháu kèm lời chúc làm ăn hanh thông, học hành giỏi giang. Mùng 2 hay mùng 3, bà con thân tộc đến thăm nhau, mừng tuổi, chúc tụng năm mới[2].
Một bài báo dẫn lời chuyên gia phong thủy Phạm Đình Hải nêu các con số lì xì được cho là may mắn theo phong thủy Huyền Không, là 1, 6, 8 và 9[4]. Đây là cách hiểu của môn phong thủy, không phải quy chuẩn của tục mừng tuổi, và không có cơ sở để nói người ba miền đều chọn số theo cách này.
Vì sao cùng một tục mà có hai tên gọi?
Theo sách Khảo luận về Tết, sinh hoạt Tết, trong đó có việc chúc tụng và mừng tuổi, làm thành một lịch lễ có phần thống nhất cho cả nước, song từng vùng miền lại có những biến thể[1]. Tên gọi khác nhau phản ánh lịch sử tiếp xúc ngôn ngữ và văn hóa khác nhau của từng vùng, chứ không phải ba miền thực hành ba nghi lễ khác nhau.
Theo bài báo dẫn giới ngôn ngữ, từ lì xì đi từ phong tục của người Hoa ở miền Nam sang cộng đồng người Việt, lan khắp miền Nam, rồi ra miền Bắc sau năm 1975; trước đó người miền Bắc chỉ nói mừng tuổi[3]. Riêng ở Huế, sách Khảo luận về Tết tả việc mừng tuổi ông bà ở nhà thờ tộc trong chuỗi việc sau lễ cúng cỗ chay sáng Nguyên đán[1].
Bắc, Huế và Nam Bộ khác nhau ở đâu, tóm lại?
Bảng dưới đây đối chiếu những điểm có nguồn ghi nhận, không nhằm xếp hạng cách làm của vùng nào.
| Khía cạnh | Miền Bắc | Huế | Nam Bộ |
|---|---|---|---|
| Tên gọi | Xưa chỉ nói mừng tuổi; lì xì du nhập sau 1975[3] | Sách tả Huế dùng chữ mừng tuổi[1] | Lì xì, âm Quảng Đông của "lợi thị", từ người Hoa lan sang người Việt[3] |
| Điều nguồn tả riêng | Mừng tuổi trẻ bằng đồng xu mới, tiền mới, xưa không có phong bao[3] | Cúng tổ tiên bằng cỗ chay; cúng xong thì đi chùa, viếng mộ, mừng tuổi ông bà ở nhà thờ tộc[1] | Nam Bộ xưa: bậc cao tuổi mặc bộ quần áo điều để con cháu lạy mừng tuổi[1]; miền Tây: người trong nhà mừng tuổi nhau ngày mùng 1[2] |
Phong bao, người trao và số tiền thì các nguồn tả chung cho cả nước, không chia theo miền[1][4].
Có phải mừng tuổi chỉ dành cho trẻ con?
Không. Mừng tuổi có hai chiều. Bậc trên trao cho trẻ nhỏ, và người đã đi làm biếu ngược lại ông bà, cha mẹ.
Theo phong tục dân gian, con cháu khi đã đi làm và có thu nhập cũng biếu ông bà, cha mẹ những phong bao đỏ thắm để chúc sức khỏe và may mắn, bình an[4]. Điểm chung nhất trong phong tục mừng tuổi là tấm lòng thành, lời chúc phúc với khát vọng an lành, hanh thông, nhiều may mắn từ sức khỏe cho tới cuộc sống vật chất, tinh thần[4].
Ở Nam Bộ xưa, mừng tuổi bậc trên còn là lạy mừng. Sách Khảo luận về Tết ghi lại việc con cháu lo trước hiếu sự cho ông bà cao tuổi: xây sanh phần, sắm cỗ thọ và may quần áo thọ, trong đó bộ quần áo điều được ông bà mặc vào dịp đầu năm để con cháu lạy mừng thêm một tuổi[1]. Sách ghi tục này riêng cho Nam Bộ xưa.
Gợi ý của Nhật Nguyệt khi mừng tuổi đầu năm
Mừng tuổi là một nghi lễ nhỏ nhưng mang nhiều tầng nghĩa: nó đánh dấu sự chuyển giao năm cũ sang năm mới, nó xác nhận thứ bậc trong gia đình, và nó là dịp để người ta nói với nhau những lời tử tế mà ngày thường ít nói. Vì vậy, điều đáng giữ không nằm ở số tiền trong phong bao.
- Nếu bạn ở miền Bắc và trong nhà vẫn nói mừng tuổi, cứ giữ cách nói ấy. Không cần chuyển sang lì xì chỉ vì nghe quen tai hơn.
- Nếu bạn ở miền Nam và dùng lì xì, cũng không cần đổi lại. Cả hai từ đều đang sống trong tiếng Việt.
- Nếu trong họ có lệ mừng tuổi ông bà tại nhà thờ tộc, hãy hỏi người lớn trong họ về thứ tự và lễ vật, vì mỗi tộc có quy ước riêng.
- Về số tiền, không có con số nào là đúng cho mọi nhà. Điều nên tránh là trao phong bao theo kiểu so đo, vì như thế làm mất chính cái ý nghĩa chúc phúc của tục lệ.
Kết luận
Ba miền không có ba tục mừng tuổi khác nhau: cả nước chung một tục với cùng ý nghĩa chúc phúc. Chỗ khác nhau các nguồn ghi được là tên gọi, mừng tuổi ở miền Bắc xưa và lì xì đi từ miền Nam ra, cùng vài lệ đi kèm ở Huế và ở Nam Bộ xưa. Phong bao và số tiền thì mỗi nơi, mỗi nhà một cách hiểu, không theo ranh giới miền.