Nhật Nguyệt

Tri thức / Việt Nam

Xem ngày truyền thống

Xem ngày tốt xấu hôm nay theo lịch âm: nguyên lý, cách tra và giới hạn của việc chọn ngày

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Chia sẻ:
Xem ngày tốt xấu hôm nay theo lịch âm: nguyên lý, cách tra và giới hạn của việc chọn ngày

TL;DR: Xem ngày tốt xấu hôm nay theo lịch âm là tra can chi ngày, trực, sao tốt xấu và giờ hoàng đạo để chọn thời điểm làm việc quan trọng. Đây là tập tục có gốc lịch pháp, hiện vẫn phổ biến qua lịch vạn sự, nhưng nhiều nghiên cứu xem đó là niềm tin văn hóa hơn là quy luật đã kiểm chứng. Ngày tốt không bảo đảm kết quả, và ngày xấu cũng không quyết định thay sự chuẩn bị của mỗi người.

Xem ngày tốt xấu hôm nay theo lịch âm là gì?

Xem ngày tốt xấu hôm nay theo lịch âm là việc tra cứu các thông tin lịch pháp của ngày hiện tại, gồm can chi ngày, trực, sao tốt xấu, và các khung giờ hoàng đạo, để cân nhắc thời điểm làm một việc quan trọng. Trong hệ đếm can chi, mỗi ngày được gọi bằng một cặp can và chi, chạy trong chu kỳ 60 ngày.

Người Việt từ lâu đã tra ngày tốt xấu qua lịch vạn sự. Trong công trình khảo cứu về tục cúng sao giải hạn của người Việt ở đồng bằng Bắc Bộ, Lê Đức Hạnh cho biết cả dân thường lẫn thầy cúng đều lấy lịch vạn sự làm nguồn tra cứu chính thức: họ dựa vào đó để nhận diện sao hung hay cát, tiên đoán điều lành dữ, và chọn ngày tốt xấu trong phạm vi một năm hoặc nhiều năm. Mỗi cuốn dày trên 100 trang, khổ 13 x 19 cm, thường được bán trước Tết dương lịch một hai tháng.

Cần phân biệt hai lớp khác nhau trong cùng một tờ lịch. Lớp thứ nhất là dữ kiện lịch pháp: ngày âm, can chi, tiết khí, giờ. Lớp thứ hai là diễn giải tốt xấu: ngày này nên cưới hay kiêng, sao nào nên cúng. Lớp thứ nhất tính ra được và kiểm chéo được với lịch in hay bảng tính độc lập; lớp thứ hai thuộc quy ước của từng sách, từng phái, và các sách không hoàn toàn thống nhất với nhau.

Vì sao một ngày được xem là tốt hay xấu?

Một ngày được xem là tốt hay xấu dựa trên sự kết hợp của nhiều lớp thông tin lịch pháp, không phải chỉ một yếu tố đơn lẻ. Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục (1915) ghi lại cách người Việt đầu thế kỷ 20 kén ngày: việc nào cũng cần kén ngày hợp mệnh, kiêng ngày xấu, và ông liệt kê các nhóm ngày tốt như ngày lục hợp, ngày Thiên đức, Nguyệt đức, Thiên ân, Thiện hỉ, Lộc mã, Hoàng đạo, cùng các nhóm ngày xấu như ngày thớp ác đại bại, ngày tứ lụ, ngày tứ tuyệt, ngày trực phá, trực nguy.

Các lớp thông tin chính thường được tra gồm:

  • Can chi ngày: cặp can chi của ngày, dùng để xét quan hệ với can chi năm sinh, tháng sinh của người làm việc.
  • Trực: mười hai trực luân phiên theo ngày, mỗi trực có việc nên và kiêng.
  • Sao tốt xấu trong ngày: các sao cát và hung được an theo quy tắc riêng của từng sách.
  • Giờ hoàng đạo và hắc đạo: sáu giờ tốt và sáu giờ xấu trong ngày, tính theo chi của ngày.
  • Tiết khí: mốc thời gian theo vị trí Trái Đất trên quỹ đạo quanh Mặt Trời, dùng để xác định tháng trong các môn thuật số.

Điểm đáng chú ý là cùng một ngày, các sách có thể cho kết luận khác nhau. Điều này không có nghĩa một sách đúng một sách sai, mà phản ánh việc mỗi hệ thống an sao và đặt quy tắc theo cách riêng.

Cách tra ngày tốt xấu hôm nay theo lịch âm

Cách tra ngày tốt xấu hôm nay theo lịch âm gồm bốn bước: xác định ngày âm và can chi ngày, tra trực, tra sao tốt xấu, rồi chọn giờ hoàng đạo nếu việc cần bắt đầu đúng lúc. Bước đầu tiên ai cũng làm được: mở lịch âm hoặc lịch vạn sự, đọc dòng ghi ngày âm và can chi ngày.

Bước 1: Xác định ngày âm và can chi ngày

Ngày âm được tính theo chu kỳ Mặt Trăng, còn can chi ngày chạy theo chu kỳ 60 ngày. Hai chu kỳ này độc lập với nhau, nên một ngày âm có thể rơi vào bất kỳ cặp can chi nào trong 60 cặp. Sách Bát Môn Thần Khóa lưu ý rằng nhiều môn toán độn cần ghép giờ âm lịch tại thời điểm người ta muốn xem để định quẻ, và lấy sai giờ thì quẻ đoán sai, cho nên việc chọn ngày giờ cũng cần nhất là giờ âm lịch.

Cũng trong sách này, tác giả ghi lại cách chuyển giờ âm lịch sang giờ đồng hồ theo múi giờ Việt Nam thời kỳ 1960 đến 1975: mỗi tháng có đầu giờ Tý xê dịch chừng mười phút, ví dụ tháng 11 thì đầu giờ Tý rơi vào 0 giờ 10 phút, còn tháng 3 và tháng 7 thì đầu giờ Tý rơi vào 0 giờ 50 phút. Chi tiết này cho thấy giờ âm lịch không đứng yên theo đồng hồ mà trượt theo mùa.

Bước 2: Tra trực của ngày

Mười hai trực gồm Kiến, Trừ, Mãn, Bình, Định, Chấp, Phá, Nguy, Thành, Thu, Khai, Bế, luân phiên theo ngày. Phan Kế Bính ghi rõ việc cưới xin nên tìm ngày Thiên đức, Nguyệt đức và kiêng ngày trực phá, trực nguy; việc xuất hành nên tìm ngày Lộc mã, Hoàng đạo và kiêng ngày trực phá, trực bế. Như vậy trực là một trong những lớp được dùng để lọc việc nên và kiêng.

Bước 3: Tra sao tốt xấu trong ngày

Mỗi ngày có một số sao cát và hung được an theo quy tắc riêng. Theo Lê Đức Hạnh, lịch vạn sự ghi đầy đủ về tử vi, ngày tốt ngày xấu, cách chọn người xông đất đầu năm, bát quái cẩm trạch, đoán sao kiết hung, thân tướng con người, và cả phương pháp xem lành dữ qua ù tai, máy mắt. Căn cứ vào cuốn lịch vạn sự, người ta biết tuổi mình năm đó gắn với sao gì, sao đó tốt hay xấu, và làm cách nào để tiễn sao xấu, nghinh sao tốt.

Bước 4: Chọn giờ hoàng đạo

Giờ hoàng đạo là sáu khung giờ tốt trong ngày, tính theo chi của ngày. Phan Kế Bính chép bốn câu thơ để tính giờ hoàng đạo theo chi ngày: Dần và Thân thì khởi từ Tý; Mão và Dậu thì khởi từ Dần; Thìn và Tuất thì tìm ở Thìn; Tị và Hợi thì ở Thân; Tý và Ngọ thì tìm ở Ngọ; Sửu và Mùi thì định ở Tuất. Ông cũng ghi rằng việc gì lúc mới bắt đầu như mới xuất hành, mới ra ngõ đi cưới, mới dựng nhà, mới hạ huyệt thường đều kén lấy giờ hoàng đạo.

Bảng dưới đây tóm tắt các lớp thông tin thường được tra khi xem ngày tốt xấu:

Lớp thông tinTính theoKiểm chéo được khôngThuộc loại
Ngày âmChu kỳ Mặt TrăngCó, đối chiếu lịch inDữ kiện lịch pháp
Can chi ngàyChu kỳ 60 ngàyCó, đối chiếu bảng tínhDữ kiện lịch pháp
Tiết khíVị trí Trái Đất quanh Mặt TrờiCó, đối chiếu lịch thiên vănDữ kiện lịch pháp
TrựcQuy tắc an theo ngàyTheo từng sáchQuy ước trường phái
Sao tốt xấuQuy tắc an saoTheo từng sáchQuy ước trường phái
Giờ hoàng đạoChi của ngàyTheo từng sáchQuy ước trường phái

Giờ hoàng đạo và giờ hắc đạo khác nhau thế nào?

Giờ hoàng đạo là sáu khung giờ được xem là thuận lợi, còn giờ hắc đạo là sáu khung giờ còn lại, được xem là bất lợi. Theo cách trình bày dựa trên Tử Vi Khảo Luận, mỗi ngày chia thành mười hai giờ Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi, tương ứng 24 giờ đồng hồ, trong đó sáu giờ là hoàng đạo và sáu giờ là hắc đạo.

Sáu giờ hoàng đạo mang tên sáu sao: Thanh Long, Minh Đường, Kim Quí, Bảo Quang, Ngọc Đường, Tư Mệnh. Theo cách diễn giải này, mỗi sao gắn với một nhóm việc: Thanh Long được xem là tốt cho nhiều việc từ khai trương, động thổ đến cầu danh; Minh Đường gắn với việc gặp gỡ quý nhân và thăng tiến; Kim Quí đặc biệt tốt cho hôn nhân, cưới hỏi.

Cần nói rõ đây là cách hiểu của một phái, không phải quy tắc chung cho mọi sách. Cách tính giờ hoàng đạo mà Phan Kế Bính ghi lại chỉ dựa vào chi của ngày theo bốn câu thơ, không gắn tên sáu sao hay nhóm việc cụ thể như cách trình bày trên. Hai cách tiếp cận cùng cho ra sáu khung giờ, nhưng phần diễn giải việc nên làm thì khác nhau.

Ngày tốt có bảo đảm việc hanh thông không?

Ngày tốt không bảo đảm việc hanh thông, và đây là điều chính các sách thuật số cổ cũng thừa nhận. Theo Tử Vi Khảo Luận, quan niệm dân gian coi một ngày là xấu chưa chắc đã gây ảnh hưởng đáng kể cho người sở hữu lá số tốt và biết lo liệu chu toàn; ở chiều ngược lại, kể cả ngày được đánh giá là tốt cũng chẳng bảo đảm mọi sự suôn sẻ, nếu chính người đó mang yếu tố bất lợi tiềm ẩn hoặc cư xử kém khôn ngoan.

Trong Tử vi đẩu số Mệnh vận phân tích, Từ Tăng Sinh đặt vấn đề thẳng thắn hơn: giả như người có cung Phu Thê xấu mà chỉ cần lựa một ngày cát lợi để kết hôn là đủ bảo vệ hạnh phúc lứa đôi, vậy hóa ra bất cứ ai lập nghiệp cũng chỉ việc chọn ngày tốt là nên công. Ông đưa ra kết luận rằng hôn nhân có tốt đẹp hay không tùy thuộc vào tương tác ảnh hưởng hai chiều giữa đôi bên; và trong trường hợp cung Phu Thê vốn xấu lại cộng thêm vận hạn với sát kỵ chồng chất, thì cho dù cưới vào ngày đại cát, tình cảm vẫn nảy sinh trục trặc.

Sách Khổng Minh Thần Toán cũng có tinh thần tương tự khi bàn về quẻ xấu: quẻ xấu không phải bản án tử hình, nó là tấm gương phản chiếu hiện trạng khó khăn, và người trí soi gương sẽ thấy mình cần sửa gì[1]. Tuy nhiên cần lưu ý đây là lời bàn của một hệ quẻ riêng, không phải quy tắc chung cho việc chọn ngày.

Các phái không thống nhất ở điểm nào?

Các phái không thống nhất ở nhiều điểm, từ cách an sao đến cách tính giờ, và người tra cần biết mình đang theo quy ước nào. Sách Khoa Tử Vi VN Ngày Nay nhận xét rằng giữa các sách, mức độ dị biệt thực sự rất lớn, đồng thời dẫn ra một trường hợp cụ thể: với sao Hỏa tinh và Linh tinh, phái Hà Lạc an theo năm rồi còn căn cứ thêm vào tháng và giờ, trong khi phái Triệu, Trần, Thanh chỉ căn cứ duy nhất vào năm.

Sự khác biệt này không chỉ là chuyện học thuật. Nó giải thích vì sao cùng một ngày, hai cuốn lịch vạn sự khác nhau có thể ghi các sao tốt xấu khác nhau, và vì sao hai thầy xem ngày có thể cho hai kết luận trái ngược. Người dùng lịch nên xem đó là thông tin tham khảo từ một hệ cụ thể, không phải chân lý chung.

Người xưa phân biệt ngày theo tiết khí hay theo tháng âm?

Người xưa phân biệt ngày theo cả hai hệ, và các môn thuật số cổ truyền thường dùng tiết khí để xác định tháng. Tài liệu Bát Tự trình bày tiết khí như hệ quả chu kỳ Trái Đất quay quanh Mặt Trời, hàm chứa đặc trưng thời tiết, khí hậu cùng nguồn năng lượng riêng của mỗi chặng trong năm; chẳng hạn Tiết Lập Xuân báo hiệu mùa Xuân đã tới, không cần biết hôm đó là mồng 1 hay ngày 15 âm lịch.

Vì vậy, khi xác định tháng sinh trong Bát Tự phải dựa vào tiết khí mà người đó sinh ra, chứ không phải ngày âm lịch. Trường hợp một người chào đời ngày 21 tháng Tư âm lịch mà chưa bước sang Tiết Mang Chủng của tháng Năm thì vẫn được xếp vào tháng Tư; trái lại, người sinh mồng 1 tháng 12 âm lịch nhưng đã qua Tiết Đông Chí lại được tính là tháng 1 âm lịch thuộc năm dương lịch kế tiếp. Đây là điểm rất dễ nhầm khi tra ngày, vì lịch âm thông thường và tháng theo tiết khí không trùng nhau.

Những điểm cần lưu ý khi dùng lịch vạn sự

Khi dùng lịch vạn sự để xem ngày, cần lưu ý rằng lịch này chứa nhiều loại nội dung khác nhau, không phải tất cả đều cùng một mức độ. Lê Đức Hạnh cho biết lịch vạn sự không chỉ có mục ngày tốt xấu và sao kiết hung, mà còn bao gồm bát quái cẩm trạch, tướng mạo con người, cách đoán lành dữ qua ù tai hay máy mắt, bài phú xem chân gà, và ngay cả bảng chỉ dẫn tính lịch để sinh con trai hay gái theo mong muốn.

Việc một cuốn lịch gom nhiều loại nội dung như vậy cho thấy nó là tài liệu tổng hợp, không phải công trình đã kiểm chứng. Người dùng nên tách phần dữ kiện lịch pháp, vốn kiểm chéo được, khỏi phần diễn giải tốt xấu và các phương pháp đoán khác.

Gợi ý của Nhật Nguyệt khi xem ngày tốt xấu hôm nay

Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu bạn tra ngày tốt xấu như một thói quen văn hóa, hãy dùng nó như một lớp tham khảo thêm, đừng để nó thay thế kế hoạch thực tế. Với việc quan trọng như ký kết, phẫu thuật, đi lại đường xa, yếu tố quyết định vẫn là chuẩn bị, thông tin và người đồng hành, không phải cặp can chi của ngày.

Nếu bạn muốn tra cho đúng, hãy tách hai việc: tra dữ kiện lịch pháp bằng một nguồn kiểm chéo được, và tra phần tốt xấu với ý thức rằng đó là quy ước của một sách cụ thể. Khi hai cuốn lịch cho kết luận khác nhau, điều đó là bình thường, không phải dấu hiệu một cuốn sai.

Cuối cùng, nếu một ngày được xem là xấu mà bạn vẫn buộc phải làm việc quan trọng, hãy nhớ chính sách thuật số cổ cũng nói rằng kết quả phụ thuộc nhiều vào con người và sự chuẩn bị hơn là vào ngày. Đó là cách dùng lịch vạn sự tỉnh táo nhất.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Xem ngày tốt xấu hôm nay theo lịch âm dựa trên những yếu tố nào?

Việc xem ngày thường dựa trên can chi ngày, trực, các sao tốt xấu trong ngày và giờ hoàng đạo. Can chi ngày và ngày âm là dữ kiện lịch pháp, kiểm chéo được với lịch in. Trực, sao tốt xấu và giờ hoàng đạo là quy ước của từng sách, nên các sách có thể cho kết luận khác nhau.

Giờ hoàng đạo được tính như thế nào?

Giờ hoàng đạo là sáu khung giờ tốt trong ngày, tính theo chi của ngày. Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục ghi bốn câu thơ để tính: Dần và Thân khởi từ Tý, Mão và Dậu khởi từ Dần, Thìn và Tuất tìm ở Thìn, Tị và Hợi ở Thân, Tý và Ngọ tìm ở Ngọ, Sửu và Mùi định ở Tuất. Cách gắn tên sáu sao như Thanh Long, Minh Đường cho từng giờ là cách trình bày của một phái riêng.

Chọn ngày tốt có bảo đảm việc quan trọng thành công không?

Không. Chính các sách thuật số cổ cũng thừa nhận điều này. Theo Tử Vi Khảo Luận, ngày tốt không đảm bảo mọi việc hanh thông nếu bản thân người đó có yếu tố bất lợi hoặc hành xử thiếu khôn ngoan. Từ Tăng Sinh trong Tử vi đẩu số Mệnh vận phân tích cũng cho rằng hôn nhân tốt đẹp hay không nằm ở quan hệ giữa hai người, không phải ở ngày cưới.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑Khoa Tử Vi VN Ngày Nay, trang 1, phần Sự khác nhau giữa chính thư và tạp thưVề cách an sao: Như sao Hỏa tinh, Linh tinh phái HÀ lạc. âm Dương căn cứ vào Năm rồi lại căn cứ vào Tháng, Giờ mà an.

Đọc thêm

#XemNgàyTốtXấu#LịchÂm#GiờHoàngĐạo#LịchVạnSự#CanChi#ChọnNgày#TrựcNgày#PhongTụcViệtNam