Tới nội dung

Tri thức / Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian

Xem tuổi vợ chồng dựa vào những gì: can chi, nạp âm hay cung phi?

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Xem tuổi vợ chồng dựa vào can chi, nạp âm hay cung phi? Các trường phái và quan niệm dân gian

TL;DR: Xem tuổi vợ chồng là quan niệm dân gian, có ba lối chính: so địa chi (tam hợp, tứ hành xung, lục hại), so nạp âm theo ngũ hành sinh khắc, và so cung phi theo phép Bát Trạch; ba lối thường cho kết quả khác nhau trên cùng một cặp tuổi. Sách Vạn sự bất cầu nhân chia nạp âm thành sinh nhập, sinh xuất, khắc xuất, khắc nhập, còn sách Hiệp kỷ biện phương thư của triều Thanh gọi chuyện hợp hôn là do thuật sĩ bịa ra.

Xem tuổi vợ chồng là gì và vì sao có nhiều lối tính?

Xem tuổi vợ chồng là việc đối chiếu năm sinh âm lịch của hai người để nói họ "hợp" hay "không hợp". Đây là quan niệm dân gian, không phải kết luận khoa học, và không có một cách tính chung: mỗi lối lấy một tầng khác nhau của cùng năm sinh, gồm địa chi (con giáp), thiên can, ngũ hành nạp âm, hay cung phi của phép Bát Trạch.

Ở Việt Nam, xem tuổi là một bước của việc cưới hỏi. Phan Kế Bính ghi trong Việt Nam phong tục rằng trước khi giạm hỏi, người ta "kén chọn chỗ nào môn đăng hộ đối, xem đôi tuổi không xung khắc nhau, mới mượn mối lái", và "trạc vợ chồng cứ hơn kém nhau một, hai tuổi là vừa đôi"[3].

Các lối xem tuổi khác nhau ở chỗ nào?

Theo địa chi. Lối đơn giản nhất chỉ so con giáp của hai năm sinh. Bốn nhóm tam hợp (Thân Tý Thìn, Tỵ Dậu Sửu, Dần Ngọ Tuất, Hợi Mão Mùi) được coi là hợp; ba nhóm tứ hành xung (Dần Thân Tỵ Hợi, Tý Ngọ Mão Dậu, Thìn Tuất Sửu Mùi) và sáu cặp lục hại (Tý Mùi, Sửu Ngọ, Dần Tỵ, Mão Thìn, Thân Hợi, Dậu Tuất) bị coi là khắc. Vì chỉ có 12 con giáp, mọi người sinh cách nhau 12 năm rơi vào cùng một ô.

Theo nạp âm. Mỗi cặp can chi của vòng 60 năm mang một tên nạp âm thuộc một trong năm hành, ví dụ Giáp Tý và Ất Sửu là Hải Trung Kim. Hai mệnh nạp âm được so theo vòng tương sinh, tương khắc của ngũ hành.

Theo cung phi. Phép Bát Trạch quy năm sinh và giới tính thành một trong tám quẻ, chia hai nhóm Đông tứ mệnh và Tây tứ mệnh. Phép này vốn dùng để chọn hướng nhà; khi đem sang hôn nhân, người ta so hai quẻ của vợ chồng. Cùng một năm sinh, nam và nữ có thể ra hai quẻ khác nhau.

Ba lối có thể cho ba kết quả khác nhau trên cùng một cặp tuổi. Ví dụ chồng sinh năm 1990 (Canh Ngọ) và vợ sinh năm 1992 (Nhâm Thân):

Lối xemChồng 1990Vợ 1992Quan hệ
Địa chiNgọThânKhông tam hợp, không xung, không hại
Thiên canCanhNhâmKhông hợp, không xung
Nạp âmLộ Bàng ThổKiếm Phong KimThổ sinh Kim, tức hành chồng sinh hành vợ
Cung phiKhảm, Đông tứ mệnhĐoài, Tây tứ mệnhKhác nhóm

Sách Vạn sự bất cầu nhân so đôi tuổi theo nạp âm ra sao?

Sách Vạn sự bất cầu nhân có mục "So đôi tuổi", lấy ngũ hành sinh khắc làm gốc: tương sinh là hợp, tương khắc là không hợp, rồi chia nhỏ theo chiều của quan hệ[2]:

Trường hợpNghĩaSách đánh giá
Sinh nhậpHành của vợ sinh hành của chồngThật tốt
Sinh xuấtHành của chồng sinh hành của vợHơi kém
Khắc xuấtChồng khắc vợXấu nhưng còn tạm được
Khắc nhậpVợ khắc chồngThật xấu
Tỵ hòaHai vợ chồng cùng một hànhCũng có thể dùng được

Cặp ví dụ ở trên, theo sách này, là sinh xuất, tức "hơi kém", dù nhiều nơi chỉ nói gọn "Thổ sinh Kim là hợp". Ngay trong sách cũng có hai câu nói ngược nhau về cùng hành: một câu "lưỡng mộc mộc chiết, lưỡng kim kim khuyết..." (hai Mộc thì gãy, hai Kim thì mẻ), một câu "lưỡng hỏa thành viêm, lưỡng mộc thành lâm...", và sách giải rằng còn tùy thứ hành, như Tích Lịch Hỏa với Thiên Thượng Hỏa thì không đi cùng nhau, còn Phú Đăng Hỏa với Sơn Hạ Hỏa thì nhờ nhau mà sáng[2].

Vì sao Hiệp kỷ biện phương thư bác việc hợp hôn?

Hiệp kỷ biện phương thư, bộ sách lịch do triều Thanh đời Càn Long sai Doãn Lộc cùng các quan biên soạn, có quyển 36 "Biện ngoa" (bác điều sai). Mục "Nam nữ hợp hôn đại lợi nguyệt" mở đầu bằng câu: trong các lời của âm dương gia, chuyện do thuật sĩ bịa ra mà hoang đường, làm mê hoặc người đời, "không gì quá hơn hợp hôn và đại lợi nguyệt" (未有如合婚大利月之尤甚者)[1].

Sách đưa ra mấy lý lẽ[1]:

  • Kinh Thư, Kinh Thi, Kinh Lễ nói về hôn nhân mà chưa từng có thuyết hợp hôn hay tháng đại lợi; phép lộc mệnh tính thọ yểu cùng thông cũng chưa từng lấy năm tháng sinh của nam nữ để định chuyện khắc vợ, khắc chồng.
  • Người ta gán thuyết hợp hôn cho Lã Tài đời Đường, nhưng truyện Lã Tài trong Đường thư cho thấy chính ông bác bỏ thuật số rất kỹ, nên việc gán ấy là ngụy thác của thuật sĩ.
  • Với lối so cung: tam nguyên cửu cung là sao nhập trung cung theo năm, không phải mệnh của người sinh năm ấy; đem phép du niên của nhà địa lý ghép hai cung để định tốt xấu lại càng trái, vì địa lý chọn thuần âm thuần dương, còn hôn nhân lấy âm dương phối ngẫu.
  • Với cô thần, quả tú (con trai sinh tháng Giêng năm Hợi, Tý, Sửu bị gọi là cô thần, khắc vợ; con gái sinh tháng Chín bị gọi là quả tú, khắc chồng), sách viết rằng trong ba năm ấy, chỉ một tháng ghép với ngày giờ đã ra hàng nghìn lá số, mà bảo tất cả đều khắc vợ khắc chồng thì "dù trẻ con ba thước cũng không tin" (雖三尺童子亦不信也).

Đây là lời của một văn bản triều đình thế kỷ 18, viết từ bên trong giới lịch pháp, không phải phê phán của người hiện đại.

Các môn thuật số khác có xem hôn nhân không?

Có. Tử Vi xem qua cung Phu Thê của lá số, Lục Nhâm và Kỳ Môn có phép chiêm hôn nhân riêng. Các phép này dựa trên lá số hay quẻ của từng lần xem chứ không chỉ trên năm sinh, nên không cho cùng kết quả với ba lối ở trên. Tất cả đều là quy ước của từng môn, không phải dữ kiện lịch pháp.

Nên hiểu kết quả xem tuổi vợ chồng thế nào?

Trong đời sống, nhiều người trộn các lối: thấy xung con giáp thì nói xung, thấy khắc nạp âm thì nói khắc, thấy hai cung khác nhóm thì nói không hợp. Khi các lối cho kết quả khác nhau, người xem thường không biết theo lối nào, và đó là chỗ dễ sinh lo lắng không cần thiết.

Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi xem tuổi, nên biết mình đang theo lối nào và không cộng điểm các lối với nhau, vì chúng không cùng thang đo. Kết quả xem tuổi là một cách hiểu văn hóa về hôn nhân, không phải lời phán cho tương lai của hai người; ngay một sách lịch của triều đình xưa đã gọi chuyện hợp hôn là điều hoang đường.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Xem tuổi vợ chồng nên dùng can chi, nạp âm hay cung phi?

Không có lối nào là chuẩn chung. Địa chi chỉ có 12 giá trị, nạp âm theo vòng 60 năm, cung phi lại tùy cả giới tính, nên cùng một cặp tuổi có thể hợp theo lối này mà không hợp theo lối kia. Điều cần là biết mình đang theo lối nào và không cộng điểm các lối với nhau.

Vì sao sách Hiệp kỷ biện phương thư lại bác việc hợp hôn?

Sách cho rằng kinh điển nói về hôn nhân mà chưa từng có thuyết hợp hôn, việc gán thuyết ấy cho Lã Tài đời Đường là ngụy thác vì chính Lã Tài bác thuật số, và lối ghép hai cung theo phép du niên của nhà địa lý là trái, vì địa lý chọn thuần âm thuần dương còn hôn nhân lấy âm dương phối ngẫu.

Nạp âm và cung phi khác nhau ở điểm nào?

Nạp âm gán một tên ngũ hành cho từng cặp can chi trong vòng 60 năm, nên hai người sinh cùng năm luôn cùng nạp âm. Cung phi tính theo năm sinh và giới tính, nên cùng năm sinh mà khác giới có thể ra hai quẻ khác nhau. Ví dụ năm 1990, nam là quẻ Khảm còn nữ là quẻ Cấn.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abDoãn Lộc (Trang thân vương, phụng sắc) và cộng sự (1741). Hiệp kỷ biện phương thư (欽定協紀辨方書, Khâm định, bản Tứ khố toàn thư, 36 quyển), Quyển 36, Biện ngoa, mục 男女合婚大利月隂陽家言多病迂泥術士揑造益屬荒唐而惑世誣民則未有如合婚大利月之尤甚者
  2. ↑ abQuảng Luân Nguyện Lan. Vạn sự bất cầu nhân: sách dạy xem ngày tốt xấu, Mục So đôi tuổi (trang 50 tới 51 bản in)Hành của chồng mà sinh hành của vợ thì gọi là sinh xuất, hành của vợ mà sinh hành của chồng thì gọi là sinh nhập.
  3. ↑Phan Kế Bính (1915). Việt Nam phong tục. Đăng trên Đông Dương tạp chí 1913-1914, in thành sách 1915; bản số hoá: Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, in lại 1973, Mục XIII. Giá thúTrước hết kén chọn chỗ nào môn đăng hộ đối, xem đôi tuổi không xung khắc nhau, mới mượn mối lái.
#XemTuổiVợChồng#CanChi#NạpÂm#CungPhi#BátTrạch#HợpHôn#TínNgưỡngDânGian#HiệpKỷBiệnPhươngThư#VạnSựBấtCầuNhân