Nhật Nguyệt

Tri thức / Đông phương / Phong thuỷ

Phong thủy

Tám du niên Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị, Họa Hại, Lục Sát, Ngũ Quỷ, Tuyệt Mệnh tính thế nào và xếp cửa, phòng chủ, bếp theo Dương trạch tam yếu ra sao

Chia sẻ:
東
TL;DR: Tám du niên là tám trạng thái năng lượng của Bát Trạch, tính bằng cách so quẻ mệnh của gia chủ với quẻ của từng phương, hoặc bằng phép biến hào từ quẻ nguồn qua tám lần. Bốn sao tốt là Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị, bốn sao xấu là Họa Hại, Lục Sát, Ngũ Quỷ, Tuyệt Mệnh. Dương trạch tam yếu lấy cửa cái làm gốc để biến ra các cung, rồi đặt phòng chủ và bếp vào cung tốt, riêng bếp theo hướng tọa hung hướng cát. Các sách không thống nhất ở chỗ gửi cung phi 5 của nam và nữ về Khôn hay Cấn, nên kết quả tra bảng có thể lệch một cung.

Tám du niên là gì và vì sao gọi là du niên?

Du niên là tên gọi chung cho tám trạng thái năng lượng được dùng trong phái Bát Trạch của phong thủy dương trạch. Tám trạng thái đó là Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị, Họa Hại, Lục Sát, Ngũ Quỷ, Tuyệt Mệnh. Sách Tuyển tập bài viết Phong Thủy chọn lọc số 2 gọi du niên là Cửu Tinh, đại diện cho sự biến đổi năng lượng theo tọa hướng của ngôi nhà và vị trí cửa cái.

Chữ du niên ở đây mang nghĩa di chuyển, luân chuyển. Mỗi khi ta đổi phương nhìn, năng lượng của ngôi nhà so với gia chủ lại đổi sang một trạng thái khác. Vì vậy cùng một căn nhà, cùng một gia chủ, nhưng đứng ở tám phương khác nhau thì ta có tám du niên khác nhau. Bốn du niên được xem là cát: Sinh Khí, Thiên Y, Diên Niên, Phục Vị. Bốn du niên được xem là hung: Họa Hại, Lục Sát, Ngũ Quỷ, Tuyệt Mệnh.

Quẻ mệnh và quẻ hướng khác nhau ở chỗ nào?

Quẻ mệnh là quẻ gắn với năm sinh và giới tính của người ở trong nhà, còn quẻ hướng là quẻ gắn với hướng của ngôi nhà hoặc hướng của cửa cái. Sách Tuyển tập bài viết Phong Thủy chọn lọc số 2 trình bày cách xác định cung phi, còn gọi là mệnh trạch, dựa trên năm sinh và giới tính, rồi đặt cung phi đó lên đồ Bát Quái để tra quan hệ với tám phương.

Đây là điểm dễ lẫn nhất. Bát Trạch Minh Kính lấy mệnh chủ làm gốc, nghĩa là lấy quẻ mệnh của người quan trọng nhất trong nhà rồi so với tám phương. Dương trạch tam yếu lại lấy cửa làm gốc, nghĩa là lấy quẻ của cửa cái rồi biến ra các cung còn lại. Hai cách cho ra hai bảng khác nhau, và đây cũng là lý do cùng một ngôi nhà mà hai thầy có thể luận ra hai kết quả không giống nhau.

Cung phi 5 của nam và nữ gửi về đâu?

Đây là chỗ các sách không thống nhất. Khi tính cung phi mà ra số 5 thì không có quẻ nào ứng với số 5 trong Bát Quái, buộc phải gửi sang một cung khác. Một số sách gửi cung phi 5 của nam về Khôn và của nữ về Cấn, một số sách làm ngược lại, cũng có sách gửi cả nam lẫn nữ về cùng một cung. Vì vậy nếu bạn tra bảng rồi thấy lệch một cung so với kết quả của người khác, hãy kiểm tra xem hai bên đang theo quy ước nào trước khi kết luận ai đúng ai sai.

Phép biến hào từ quẻ mệnh sang quẻ hướng diễn ra thế nào?

Phép biến hào là cách tính tám du niên bằng cách lật dấu âm dương của từng hào trong quẻ. Mỗi quẻ Bát Quái có ba hào, mỗi hào hoặc âm hoặc dương. Ta lật lần lượt từng hào, mỗi lần lật ra một quẻ mới, và mỗi quẻ mới ứng với một du niên. Làm đủ tám lần thì quay về quẻ gốc, đó là Phục Vị.

Sách Tuyển tập bài viết Phong Thủy chọn lọc số 3 mô tả trình tự này. Ở lần biến đầu tiên, kết quả luôn ứng với Sinh Khí; lần thứ hai ứng với Ngũ Quỷ; lần thứ ba ứng với Diên Niên; lần thứ tư ứng với Lục Sát; lần thứ năm ứng với Họa Hại; lần thứ sáu ứng với Thiên Y; lần thứ bảy ứng với Tuyệt Mệnh; và lần thứ tám quay trở lại quẻ ban đầu, tức Phục Vị. Sách này cũng dẫn Dương Cơ Chứng Giải của Lộc Dã Phu khi bàn về quá trình bát biến, đồng thời cho rằng lần biến thứ tám mang ý nghĩa phục hồi và ổn định, có thể tốt hoặc không quá xấu tùy theo bản chất của cung gốc.

Ví dụ với quẻ Khảm, lần biến thứ nhất sinh ra Tốn, ứng với Sinh Khí. Lần thứ hai từ Tốn sinh ra Chấn, ứng với Ngũ Quỷ. Cứ thế mà tiếp tục cho đến khi quay về Khảm. Sách Tuyển tập bài viết Phong Thủy chọn lọc số 3 cho biết các cổ thư như Dương Trạch Tam Yếu đã lập sẵn bảng tổng hợp các cung biến hóa du niên, do đó người dùng có thói quen tra bảng sẵn thay vì tự tay lật từng hào.

Bảng tám du niên theo quẻ mệnh và tám phương

Bảng dưới đây là bảng 8 x 8 quy ước, dựng theo lối tra cứu thông dụng của Bát Trạch: hàng ngang là quẻ mệnh của gia chủ, cột dọc là phương cần xét. Cách đọc là giao của quẻ mệnh và phương cho ra du niên của phương đó đối với người ấy.

Quẻ mệnhKhảmKhônChấnTốnTrungKiềnĐoàiCấnLy
KhảmPhục VịTuyệt MệnhThiên YSinh Khí(5)Lục SátHọa HạiNgũ QuỷDiên Niên
KhônTuyệt MệnhPhục VịHọa HạiNgũ Quỷ(5)Diên NiênSinh KhíThiên YLục Sát
ChấnThiên YHọa HạiPhục VịDiên Niên(5)Ngũ QuỷTuyệt MệnhLục SátSinh Khí
TốnSinh KhíNgũ QuỷDiên NiênPhục Vị(5)Họa HạiLục SátTuyệt MệnhThiên Y
KiềnLục SátDiên NiênNgũ QuỷHọa Hại(5)Phục VịTuyệt MệnhThiên YSinh Khí
ĐoàiHọa HạiSinh KhíTuyệt MệnhLục Sát(5)Tuyệt MệnhPhục VịDiên NiênNgũ Quỷ
CấnNgũ QuỷThiên YLục SátTuyệt Mệnh(5)Thiên YDiên NiênPhục VịHọa Hại
LyDiên NiênLục SátSinh KhíThiên Y(5)Sinh KhíNgũ QuỷHọa HạiPhục Vị

Cột Trung là cung số 5, không có quẻ tương ứng, nên trong thực hành người ta gửi sang Khôn hoặc Cấn tùy sách. Bảng này dựng theo quy ước đối xứng, nghĩa là du niên giữa hai quẻ là như nhau dù đứng từ phía nào. Nếu bạn theo quy ước gửi cung phi 5 khác đi, một số ô sẽ đổi giá trị.

Ý nghĩa và ngũ hành của tám du niên

Theo sách Tuyển tập bài viết Phong Thủy chọn lọc số 2, Sinh Khí thuộc Mộc và là sao tốt nhất, chủ về tài vận vượng, sức khỏe dồi dào, nhân khẩu phát triển. Diên Niên, còn gọi là Phúc Đức, thuộc Kim, chủ về tài lộc, tuổi thọ và sự hòa thuận trong gia đạo. Thiên Y thuộc Thổ, giúp giảm bệnh tật và tăng thọ. Phục Vị thuộc Thủy, mức độ trung bình, chủ về ổn định.

Về nhóm hung, sách này xếp Họa Hại thuộc Thổ, Lục Sát thuộc Thủy, Ngũ Quỷ thuộc Hỏa, Tuyệt Mệnh thuộc Kim. Tuyệt Mệnh bị xem là xấu nhất, chủ về tai họa, bệnh tật, chia ly, hao tán. Ngũ Quỷ gây tai họa bất ngờ, tranh chấp, kiện tụng. Lục Sát dẫn đến bất hòa, mâu thuẫn, mất mát. Họa Hại gây thị phi và ảnh hưởng sức khỏe.

Sách Tuyển tập bài viết Phong Thủy chọn lọc số 2 cũng nhấn mạnh rằng mức độ tốt xấu còn phụ thuộc tương tác ngũ hành giữa sao và cung vị. Sinh Khí thuộc Mộc chiếu vào cung Đông thuộc Mộc thì được tăng cường. Sao xấu chiếu vào cung tương sinh với nó thì hung tính có thể giảm phần nào, nhưng vẫn còn rủi ro.

Cát tinh đắc vị, thất vị, đăng diện khác nhau ra sao?

Theo sách Tuyển tập bài viết Phong Thủy chọn lọc số 3, Thiên Y thuộc Thổ gặp các cung Chấn, Tốn, Khảm thuộc Mộc và Thủy thì gọi là thất vị, tức không phát huy hết tác dụng tốt, thậm chí bị suy giảm. Thiên Y gặp các cung Ly, Đoài, Kiền thuộc Hỏa và Kim thì gọi là đắc vị, tốt ở bậc nhì. Thiên Y gặp Cấn và Khôn cùng thuộc Thổ thì gọi là đăng diện, tương hòa đồng loại, được xem là tốt bậc nhất.

Cách phân ba mức đăng diện, đắc vị, thất vị này rất quan trọng khi xếp phòng. Nó giải thích vì sao hai căn nhà cùng đặt bếp ở phương Thiên Y mà một căn được khen là vượng, căn kia chỉ được coi là tạm. Sách Tuyển tập bài viết Phong Thủy chọn lọc số 3 còn cho rằng Thiên Y kết hợp với sao Cự Môn được xem như kho tiền tài, bảo vật, còn Ngũ Quỷ và Liêm Trinh có thể gây tai ương bệnh tật, Tuyệt Mệnh và Phá Quân thì dẫn đến tai họa khôn lường.

Dương trạch tam yếu lấy cửa làm gốc như thế nào?

Theo thuyết Dương trạch tam yếu gắn với tên sách của Sái Cửu Phong, có ba yếu tố được đề cao: cửa cái, sơn chủ hoặc phòng chủ, cùng vị trí đặt bếp. Sách Tuyển tập bài viết Phong Thủy chọn lọc số 3 trình bày rằng thuyết này chủ trương bếp phải đặt nơi cát phương và có liên hệ mật thiết với tam cát trạch. Sách cũng nêu một câu trong cổ văn về việc từ Chấn biến năm lần tới Tốn hướng thì được Diên Niên, cho thấy cửa cái là điểm khởi phát rồi từ đó biến ra các cung còn lại.

Nói cách khác, Bát Trạch Minh Kính hỏi người này hợp hướng nào, còn Dương trạch tam yếu hỏi cửa này mở ra thì các cung trong nhà thành thế nào. Sách Tuyển tập bài viết Phong Thủy chọn lọc số 3 nói rõ sự khác biệt này khi so hai thuyết về táo tòa, và cho rằng áp dụng máy móc một thuyết mà bỏ qua thuyết kia là điều cần tránh.

Xếp cửa, phòng chủ và bếp theo sao nào?

Theo sách Tuyển tập bài viết Phong Thủy chọn lọc số 3, để nhà được thịnh vượng, giàu sang, nhân khẩu yên lành ít đau ốm, việc đặt chủ phòng và bếp cần rơi vào các cung thừa kiết du niên ở mức đăng diện hay đắc vị; trường hợp kém nhất cũng chỉ nên đặt tại cung thừa kiết du niên ở mức thất vị. Bảng dưới đây tổng hợp hướng dẫn xếp đặt theo từng sao.

Hạng mụcNên rơi vào saoGhi chú
Cửa cáiSinh Khí, Thiên Y, Diên NiênCửa là gốc của tam yếu, cần tránh Tuyệt Mệnh và Ngũ Quỷ
Phòng chủDiên Niên, Sinh Khí, Thiên YĐặt ở mức đăng diện hoặc đắc vị thì tốt hơn thất vị
BếpTọa hung hướng cátBếp nhìn về cát phương, phần lưng bếp tựa vào hung phương
Phòng thờThiên Y, Diên NiênƯu tiên cung yên tĩnh và đắc vị
Phòng ngủ vợ chồng trẻThiên YSách UNG DUNG Trung Quoc cho rằng Thiên Y hợp vợ chồng trẻ
Bàn học, bục viếtSinh KhíSách UNG DUNG Trung Quoc cho rằng Sinh Khí lợi cho thi cử
Phòng người giàDiên NiênSách UNG DUNG Trung Quoc cho rằng Diên Niên hợp người già

Sách UNG DUNG Trung Quoc có bài vè về cách sắp xếp cửu tinh theo bát môn của dương trạch, trong đó mỗi quẻ có một dãy thứ tự riêng, ví dụ với Khảm là Ngũ, Thiên, Sinh, Điên, Tuyệt, Họa, Lục, với Cấn là Lục, Tuyệt, Họa, Sinh, Thiên, Điên, Ngũ. Sách này cũng gợi ý cách nhớ bằng cách dựng mỗi câu vè thành một câu chuyện theo cảm nhận riêng.

Vì sao bếp phải tọa hung hướng cát?

Nguyên tắc tọa hung hướng cát nghĩa là lưng bếp tựa vào phương xấu, mặt bếp nhìn về phương tốt. Cách lý giải thông dụng là bếp thuộc Hỏa, đặt lưng vào hung phương để trấn áp khí xấu, còn mặt hướng về cát phương để đón khí tốt. Sách Tuyển tập bài viết Phong Thủy chọn lọc số 3 ghi lại hai thuyết trái ngược về táo tòa: một thuyết chủ trương đặt bếp nơi cát phương, thuyết kia là Dương trạch tam yếu chủ trương bếp phải đồng phe với nhà, nhà Tây trạch thì bếp đặt phía Tây, nhà Đông trạch thì bếp đặt phía Đông, nhằm điều phối và tạo cân bằng giữa ba yếu tố cửa, chủ, bếp.

Sách này cũng dẫn những câu như chiếm phương Thiên Y thì bịnh hoạn liên miên, chiếm phương Sanh Khí thì hao tổn ruộng vườn súc vật, chiếm phương Diên Niên thì khó thọ và hôn nhân khó thành. Đây là những câu đi ngược lại kết luận thông thường rằng cát tinh thì luôn tốt, và sách dùng chúng để nhắc rằng áp dụng Bát Trạch Minh Cảnh vào táo tòa cần tinh tế, tránh máy móc.

Đông tứ trạch và Tây tứ trạch liên quan gì?

Theo sách Tuyển tập bài viết Phong Thủy chọn lọc số 3, các cung Đông tứ trạch gồm Khảm, Ly, Chấn, Tốn, còn Tây tứ trạch gồm Kiền, Khôn, Cấn, Đoài. Khi các cung trong cùng một nhóm kết hợp với nhau thì thường sinh ra cát du niên, còn khi hai nhóm giao thoa thì có xu hướng sinh ra hung du niên. Sách này cũng nêu quan hệ hành: Đông tứ trạch thuộc hành Mộc, Tây tứ trạch thuộc hành Kim; trường hợp hành của sao trùng với hành của nhà được gọi là vượng trạch cách, còn trường hợp hành của sao sinh ra hành của nhà được gọi là sanh trạch cách.

Đông tứ trạch và Tây tứ trạch trên tám hướng.
Đông tứ trạch và Tây tứ trạch trên tám hướng.

Cách phân nhóm này giải thích vì sao người ta thường nói người Đông tứ mệnh hợp nhà Đông tứ trạch. Nhưng cần lưu ý đây là quy luật thống kê theo nhóm, không phải chân lý tuyệt đối cho từng trường hợp cụ thể.

Những điểm cần lưu ý khi tự tra bảng

Thứ nhất, phải xác định rõ đang theo Bát Trạch Minh Kính lấy mệnh chủ hay Dương trạch tam yếu lấy cửa làm gốc, vì hai cách cho ra bảng khác nhau. Thứ hai, phải xử lý cung phi 5 theo quy ước của sách mình dùng, và ghi rõ quy ước đó khi trình bày kết quả. Thứ ba, phải phân biệt đăng diện, đắc vị, thất vị khi luận mức độ tốt xấu, chứ không chỉ dừng ở tên sao.

Thứ tư, sách Tuyển tập bài viết Phong Thủy chọn lọc số 3 nhắc rằng Dương trạch tam yếu không tồn tại độc lập. Một ngôi nhà có bố cục tốt theo tam yếu nhưng nằm gần nghĩa trang, bệnh viện hay nơi nhiều âm khí thì hiệu quả giảm sút. Ngược lại, nhà bố cục chưa hoàn hảo nhưng ở vị trí đắc địa hoặc gặp thời vận tốt vẫn có thể mang lại may mắn. Sách Tuyển tập bài viết Phong Thủy chọn lọc số 2 cũng nói phong thủy là nghệ thuật sắp đặt không gian hài hòa với quy luật tự nhiên, không phải mê tín dị đoan, và việc nắm vững tám sao Bát Trạch là bước đi quan trọng để chủ động cải thiện vận khí.

Cuối cùng, cần nhớ rằng các sao du niên chỉ là một lớp thông tin. Cùng một phương có thể tốt với người này và xấu với người khác, tùy quẻ mệnh. Vì vậy không nên khẳng định cát hung tuyệt đối cho bất kỳ vị trí nào khi chưa xét đủ các lớp còn lại.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Tám du niên Bát Trạch tính bằng cách nào?

Có hai cách. Cách thứ nhất là so quẻ mệnh của gia chủ với quẻ của từng phương trong tám phương, tra ra du niên tương ứng. Cách thứ hai là phép biến hào: lật dấu âm dương từng hào của quẻ nguồn, mỗi lần lật ra một quẻ mới ứng với một du niên, theo thứ tự Sinh Khí, Ngũ Quỷ, Diên Niên, Lục Sát, Họa Hại, Thiên Y, Tuyệt Mệnh, rồi lần thứ tám trở về quẻ gốc là Phục Vị.

Dương trạch tam yếu khác Bát Trạch Minh Kính ở điểm nào?

Bát Trạch Minh Kính lấy mệnh chủ làm gốc, tức lấy quẻ mệnh của người quan trọng nhất trong nhà rồi so với tám phương. Dương trạch tam yếu lấy cửa cái làm gốc, từ quẻ của cửa biến ra các cung còn lại, rồi đặt phòng chủ và bếp vào cung tốt. Vì gốc khác nhau nên hai cách có thể cho ra kết quả không giống nhau trên cùng một ngôi nhà.

Cung phi số 5 của nam và nữ gửi về Khôn hay Cấn?

Các sách không thống nhất. Một số sách gửi cung phi 5 của nam về Khôn và của nữ về Cấn, một số sách làm ngược lại, cũng có sách gửi cả hai về cùng một cung. Vì vậy khi tra bảng mà thấy lệch một cung so với kết quả của người khác, nên kiểm tra xem hai bên đang theo quy ước nào trước khi kết luận.

Bài này thuộc chủ đề Phong thuỷ. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Phong thuỷ.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. UNG DUNG Trung Quoc
#DuNiên#BátTrạch#SinhKhí#ThiênY#DiênNiên#PhụcVị#HọaHại#LụcSát#NgũQuỷ#TuyệtMệnh#DươngTrạchTamYếu#QuẻMệnh#CungPhi#PhongThủyNhàỞ