Tới nội dung

Tri thức / Đông phương

Lịch âm

Tiết Đại Hàn là gì, bắt đầu ngày nào và có tục lệ gì?

Lịch pháp và thiên văn Phép tính lịch pháp.

Tiết Đại Hàn là gì, bắt đầu ngày nào và có tục lệ gì?

TL;DR: Tiết Đại Hàn (大寒) là tiết khí cuối cùng trong 24 tiết khí, thường bắt đầu quanh ngày 20 tháng 1 dương lịch khi kinh độ Mặt Trời đạt 300 độ, và kéo dài khoảng 15 ngày cho tới khi tiết Lập Xuân nối tiếp. Đây là giai đoạn rét đậm nhất trong năm theo cách phân chia tiết khí, đồng thời là mốc báo hiệu mùa xuân sắp về. Tên gọi và ý nghĩa của tiết này được ghi lại trong các sách cổ như Tuế thời quảng ký và Mệnh lý tham nguyên.

Tiết Đại Hàn là gì?

Tiết Đại Hàn (大寒) là tiết khí thứ hai mươi tư, cũng là tiết khí cuối cùng trong hệ thống 24 tiết khí của lịch Đông phương. Tên gọi có nghĩa là "rét đậm", chỉ khoảng thời gian lạnh nhất trong năm. Theo cách tính hiện đại, điểm Xuân phân được lấy làm gốc ứng với kinh độ Mặt Trời bằng 0 độ, và tiết Đại Hàn bắt đầu khi kinh độ Mặt Trời đạt 300 độ[1].

Trong hệ thống 24 tiết khí, mỗi tiết kéo dài khoảng 15 hoặc 16 ngày, phản ánh vị trí của Trái Đất trên quỹ đạo quanh Mặt Trời. Tiết Đại Hàn tiếp nối tiết Tiểu Hàn và kết thúc khi tiết Lập Xuân bắt đầu, mở ra chu kỳ mùa xuân mới.

Sách Mệnh lý tham nguyên giải tên hai tiết Tiểu Hàn và Đại Hàn bằng câu thơ thiên Thất nguyệt, phần Bân phong của Kinh Thi: 一之日觱發,二之日栗烈, nghĩa là những ngày tháng thứ nhất (tính theo lịch nhà Chu) gió thổi rét buốt, những ngày tháng thứ hai rét căm căm. Sách giải rằng 觱發 là gió rét nên đặt tên Tiểu Hàn, 栗烈 là khí rét nên đặt tên Đại Hàn[2].

Tiết Đại Hàn bắt đầu ngày nào?

Tiết Đại Hàn thường bắt đầu vào khoảng ngày 20 tháng 1 dương lịch hằng năm, khi kinh độ Mặt Trời đạt 300 độ[1]. Tính theo giờ Việt Nam, từ năm 1900 tới 2100 tiết này bắt đầu ngày 20 tháng 1 ở 127 năm, ngày 21 tháng 1 ở 54 năm (rải từ 1901 tới 2004) và ngày 19 tháng 1 ở 20 năm (rải từ 2045 tới 2098).

Ví dụ cụ thể, năm 2026, tiết Đại Hàn bắt đầu từ ngày 20 tháng 1 và kéo dài tới ngày 3 tháng 2. Đến ngày 4 tháng 2 năm 2026, tiết Lập Xuân sẽ nối tiếp, đánh dấu sự chuyển giao sang mùa xuân[1].

Mốc giao tiết Đại Hàn từ năm 2025 tới 2030, theo giờ Việt Nam:

NămNgày bắt đầuGiờ giao tiết
202520 tháng 102:53
202620 tháng 108:40
202720 tháng 114:28
202820 tháng 120:16
202920 tháng 102:05
203020 tháng 107:54

Bảng dưới đây tóm tắt vị trí của tiết Đại Hàn trong chuỗi 24 tiết khí và mối liên hệ với các tiết lân cận:

Tiết khíThứ tựKinh độ Mặt TrờiThời gian dự kiến
Tiểu Hàn23285 độKhoảng 5 đến 6 tháng 1
Đại Hàn24300 độKhoảng 20 tháng 1
Lập Xuân1315 độKhoảng 3 đến 4 tháng 2
Vũ Thủy2330 độKhoảng 18 đến 19 tháng 2

Vì sao gọi là Đại Hàn và tiết này có ý nghĩa gì?

Theo sách Mệnh lý tham nguyên, tiết Đại Hàn đánh dấu giai đoạn chuyển hóa của khí hậu. Sách dẫn lời tiên nho: biến là sự chuyển hóa dần dần, hóa là sự thành tựu của biến. Sau Lập Xuân và Vũ Thủy, hàn khí chuyển dần, đến Lập Hạ thì hàn khí tiêu tan hết. Tương tự, sau Lập Thu và Xử Thử, thử khí chuyển dần, đến Đông Chí thì thử khí chuyển hết thành hàn khí. Tiết Tiểu Hàn và Đại Hàn thể hiện sự chuyển hóa có tuần tự ấy[2].

Sách Tuế thời quảng ký (歲時廣記) của Trần Nguyên Tịnh đời Nam Tống, ở mục tháng cuối đông (季冬月), chép lời Tam thống lịch: 小寒為十二月節大寒為十二月中氣, nghĩa là Tiểu Hàn là tiết, Đại Hàn là trung khí của tháng Mười Hai. Cùng chỗ ấy giải tên: 月初寒為小月半寒為大, tức rét đầu tháng gọi là tiểu, rét giữa tháng gọi là đại. Sách cũng dẫn Hiếu kinh vĩ: 後十五日斗指丑為大寒, tức sau Tiểu Hàn mười lăm ngày, chuôi sao Bắc Đẩu chỉ phương Sửu thì là Đại Hàn[3].

Tiết Đại Hàn có tục lệ gì?

Ở Việt Nam, tiết Đại Hàn bắt đầu trong tháng Chạp âm lịch, sát Tết Nguyên Đán.

Báo Thanh Niên thuật lại rằng theo phong tục xưa, tới tiết Đại Hàn người ta bắt đầu bận rộn tân trang nhà cửa, làm dưa muối, chuẩn bị đồ Tết[1].

Ở mục tháng cuối đông, sách Tuế thời quảng ký ghi ba hậu của tiết Đại Hàn theo Chu thư Thời huấn: 大寒之日雞始乳又五日鷙鳥厲疾又五日水澤腹堅, nghĩa là ngày Đại Hàn gà bắt đầu ấp nở, năm ngày sau chim săn mồi bay lượn hung hăng, năm ngày nữa nước ao đầm đóng băng tới đáy[3]. Đây là lịch vật hậu của Trung Hoa cổ, không phải tục lệ của người Việt.

Tiết Đại Hàn ảnh hưởng đến sức khỏe và đời sống như thế nào?

Trong dân gian, Đại Hàn được coi là quãng rét nhất trong năm, nên người ta chú ý giữ ấm, tránh gió lạnh.

Sách Đàm thiên, thuyết địa, luận nhân trình bày học thuyết Ngũ vận Lục khí, theo đó khí cuối cùng của năm có chủ khí là Thái Dương Hàn Thủy, còn khách khí đổi theo từng năm, nên khí hậu quãng cuối đông được tả khác nhau giữa các năm. Chẳng hạn, năm có khách khí Quyết Âm Phong Mộc thì sách viết: "Tuy là mùa đông, vạn vật lại có xu thế phát triển, trời thường có sương mù"[4].

Tiết Đại Hàn trong hệ thống lịch pháp và thuật số

Trong Bát Tự, trụ tháng chỉ đổi ở mười hai tiết. Đại Hàn là trung khí của tháng Sửu nên không đổi trụ tháng: người sinh từ giờ giao Tiểu Hàn tới trước giờ giao Lập Xuân đều mang trụ tháng Sửu, và trụ năm vẫn là năm cũ vì năm Bát Tự chỉ đổi ở Lập Xuân.

Trong phong thủy, 24 tiết khí được phân bố trên 24 sơn của la bàn. Theo lý luận phong thủy, phía dưới Nhị Thập Tứ Sơn phân bố 24 tiết khí, trong đó Lập Xuân bắt đầu từ Cấn, Đại Hàn bắt đầu từ Sửu. Mỗi tiết khí chia thành thượng hậu, trung hậu và hạ hậu, tổng cộng có 72 hậu, để hiểu rõ nguyên lý Âm Dương tiêu trưởng[6].

Cần lưu ý, đây là cách ứng dụng tiết khí trong thuật số và phong thủy, không phải kiến thức thiên văn hiện đại. Việc phân chia tiết khí theo kinh độ Mặt Trời là cơ sở thiên văn, còn việc gán tiết khí vào các sơn của la bàn là quy ước của môn phong thủy.

Làm thế nào để tra cứu ngày bắt đầu tiết Đại Hàn chính xác?

Để tra cứu ngày bắt đầu tiết Đại Hàn chính xác cho một năm cụ thể, có thể dùng các cách sau:

  • Tra lịch vạn niên in hoặc lịch âm dương: các loại lịch này thường ghi rõ ngày giao tiết. Ví dụ, năm 2026, tiết Đại Hàn bắt đầu ngày 20 tháng 1[1].
  • Dùng công thức tính kinh độ Mặt Trời: tiết Đại Hàn bắt đầu khi kinh độ Mặt Trời đạt 300 độ. Có thể dùng các phần mềm thiên văn hoặc bảng tính để xác định thời điểm này.
  • Các sách về lịch pháp có thể cung cấp cách tính và bảng tra cứu.

Gợi ý của Nhật Nguyệt

Khi tìm hiểu về tiết Đại Hàn, nên phân biệt rõ giữa: (a) dữ kiện lịch pháp có thể tính toán và kiểm chứng (ngày bắt đầu, kinh độ Mặt Trời), (b) quan niệm dân gian về thời tiết và sức khỏe, và (c) các ứng dụng trong thuật số, phong thủy là quy ước của từng môn. Việc hiểu đúng bản chất của từng loại tri thức sẽ giúp tránh nhầm lẫn giữa dữ kiện khoa học và quan niệm truyền thống.

Nếu bạn quan tâm đến việc ứng dụng tiết khí trong đời sống, có thể bắt đầu từ việc tra cứu ngày giao tiết chính xác cho năm hiện tại, sau đó tìm hiểu thêm về các đặc điểm thời tiết và lời khuyên sức khỏe phù hợp. Các khuyến nghị về sức khỏe nên dựa trên kiến thức y tế hiện đại, kết hợp với việc tham khảo các quan niệm truyền thống như một phần của văn hóa.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Tiết Đại Hàn năm 2026 bắt đầu ngày nào?

Tiết Đại Hàn năm 2026 bắt đầu từ ngày 20 tháng 1 dương lịch và kéo dài tới ngày 3 tháng 2. Đến ngày 4 tháng 2 năm 2026, tiết Lập Xuân sẽ nối tiếp.

Người sinh sau tiết Đại Hàn, trước Lập Xuân thì năm và tháng Bát Tự tính thế nào?

Vẫn là tháng Sửu và vẫn tính năm cũ. Trong Bát Tự, trụ tháng chỉ đổi ở mười hai tiết, còn Đại Hàn là trung khí nên không đổi tháng; trụ năm và trụ tháng chỉ sang năm mới, tháng Dần khi tới giờ giao Lập Xuân, năm 2026 là 02:55 ngày 4 tháng 2 theo giờ Việt Nam. Ví dụ, người sinh ngày 1 tháng 2 năm 2026 vẫn mang trụ năm Ất Tỵ, trụ tháng Kỷ Sửu.

Tiết Đại Hàn có phải là thời điểm lạnh nhất trong năm không?

Theo cách phân chia tiết khí, tiết Đại Hàn được xem là khoảng thời gian lạnh nhất trong năm, với tên gọi có nghĩa là "rét đậm". Tuy nhiên, nhiệt độ thực tế còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khí hậu khác nhau, và tiết khí là cách phân chia thời gian theo kinh độ Mặt Trời.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdeBáo Thanh Niên: Hôm nay bắt đầu tiết Đại hàn: Không khí lạnh tăng cường, người Việt lưu ý gì?, Đoạn đầu bài báo, ngày 20/01/2026Ngày 20.1 hôm nay là ngày đầu tiên của tiết Đại hàn, tiết khí cuối cùng trong 24 tiết khí của năm.
  2. ↑ abViên Thụ San (1915). Mệnh lý tham nguyên (命理探原, Viên Thụ San), Đoạn giải tên các tiết khí (至小寒大寒...)至小寒大寒,《幽风》云:一之日寒发,二之日栗烈
  3. ↑ abTrần Nguyên Tịnh (không rõ năm). Tuế thời quảng ký (歲時廣記, bản Tứ khố toàn thư, 4 quyển), Quyển 4, mục Quý đông (季冬月)三統厯曰小寒為十二月節大寒為十二月中氣小寒大寒者十二月極寒之時相對為大小月初寒為小月半寒為大
  4. ↑Ngô Bạch và Trương Huyền (lược dịch). Đàm thiên, thuyết địa, luận nhân, Trang 39, phần bàn về khí hậu mùa đôngKhí cuối qùng, Chủ khí là Thái Dương Hàn Thủy, Khách khí là Quyết Âm Phong Mộc, cũng lả khí Tại Tuyên, nên khí Phong tràn tới.
  5. ↑Phong thủy cổ đại Trung Quốc: lý luận và thực tiễn, tập 2, Trang 153, phần Tiết Khí bốn mùaLý luận Phong Thủy cho rằng, phía dưới Nhị Thập Tứ Sơn phân bố hai mươi bốn Tiết Khí, Lập Xuân bắt đầu từ Cấn, Đại Hàn bắt đâu từ Sửu

Đọc thêm

  • Thuật số Lạc Thư (Kỳ Môn Độn Giáp nguyên thủy), Trang 33, phần Cửu tinh phối thángNgười Lạc Việt thì cũng tính 2 Tiết là 1 tháng, nhưng khởi đầu từ Tiết Đông Chí. Đông Chí + Tiểu Hàn là tháng Tý (Tháng 1). Đại Hàn + Lập Xuân là tháng Sửu (Tháng 2)
#TiếtĐạiHàn#24TiếtKhí#LịchÂm#TiếtKhí#ĐạiHànLàGì#LịchĐôngPhương