Tới nội dung

Tri thức / Đông phương

Lịch âm

Tiết Hàn Lộ là gì, bắt đầu ngày nào và có tục lệ gì?

Lịch pháp và thiên văn Phép tính lịch pháp.

Tiết Hàn Lộ là gì, bắt đầu ngày nào và có tục lệ gì?

TL;DR: Tiết Hàn Lộ là tiết thứ 17 trong 24 tiết khí, bắt đầu khoảng ngày 8 tháng 10 dương lịch khi Mặt Trời tới kinh độ 195 độ, mở đầu tháng Tuất (tháng Chín tính theo tiết khí). Tên tiết ghép từ chữ Hán 寒 (hàn, lạnh) và 露 (lộ, sương), nghĩa là sương đã bắt đầu lạnh, tiếp nối tiết Bạch Lộ trước đó. Đây là chặng cuối thu, trời bắt đầu se lạnh, gắn với việc thu hoạch và chuẩn bị cho mùa đông.

Tiết Hàn Lộ là gì?

Tiết Hàn Lộ nằm trong hệ thống 24 tiết khí, mở đầu tháng Tuất (tháng Chín tính theo tiết khí), là chặng cuối thu trước khi sang đông. Tên gọi xuất phát từ chữ Hán 寒露 (hàn: lạnh; lộ: sương), chỉ thời điểm sương đã lạnh hơn so với tiết Bạch Lộ trước đó.

Sách Tam mệnh thông hội, quyển 2, mục 論四時節氣, chép: "白露八月節,寒露九月節", rồi giải thích: "金色白,金氣寒,白者,露色,寒者,露之氣,先白而氣始寒,固有漸也"[3]. Tạm dịch: Bạch Lộ là tiết tháng Tám, Hàn Lộ là tiết tháng Chín; sắc của Kim là trắng, khí của Kim là lạnh; trắng là sắc của sương, lạnh là khí của sương; trắng trước rồi khí mới bắt đầu lạnh, vốn có tuần tự.

Tiết Hàn Lộ bắt đầu ngày nào?

Tiết Hàn Lộ bắt đầu khi Mặt Trời tới kinh độ 195 độ trên đường hoàng đạo. Theo giờ Việt Nam, ngày giao tiết thường là 8 tháng 10; từ năm 1900 tới 2100 có 55 năm rơi vào ngày 9 tháng 10 (đều trước năm 2000) và 25 năm rơi vào ngày 7 tháng 10 (từ năm 2036). Tiết kéo dài khoảng 15 ngày, tới khi Mặt Trời tới kinh độ 210 độ, tức lúc giao tiết Sương Giáng, thường ngày 23 tháng 10.

Giờ giao tiết Hàn Lộ các năm 2025 tới 2030, theo giờ Việt Nam:

NămNgày dương lịchGiờ giao tiết
20258/10/202507:42
20268/10/202613:29
20278/10/202719:15
20288/10/202801:04
20298/10/202906:52
20308/10/203012:41

Sách Hiệp kỷ biện phương thư, quyển 12, mục 氣候, ghi ba hậu của tiết Hàn Lộ: "鴻鴈來賔 雀入大水為蛤 菊有黄華"[1]. Tạm dịch: chim hồng nhạn bay đến làm khách, chim sẻ vào nước lớn hóa thành con sò, hoa cúc nở vàng.

Trong lịch can chi, tiết Hàn Lộ mở đầu tháng Tuất (Nguyệt kiến Tuất), và tháng này kéo tới trước tiết Lập Đông, thường ngày 7 hoặc 8 tháng 11. Sách Tăng san bốc dịch, phần quy định tháng trong năm, ghi: "Tháng Chín: Nguyệt Kiến là Tuất, khởi đầu từ tiết Hàn Lộ". Tháng tính theo tiết khí này không trùng với tháng Chín âm lịch, vốn bắt đầu từ ngày mùng 1 âm lịch.

Vì sao tiết Hàn Lộ lại có tên gọi như vậy?

Sách Tuế thời quảng ký, quyển 3, mục 季秋月, dẫn Tam thống lịch: "寒露為九月節霜降為九月中氣", và giải nghĩa tên tiết: "寒露者言露氣寒將欲凝結"[2]. Tạm dịch: Hàn Lộ là tiết của tháng Chín, Sương Giáng là trung khí của tháng Chín; gọi là Hàn Lộ vì khí của sương đã lạnh, sắp đông lại.

Tam mệnh thông hội, cũng trong mục bàn về tiết khí, chia các tiết theo hai nửa năm: nửa đầu năm chủ về sinh trưởng, biểu hiện qua mưa, sấm, gió; nửa sau năm chủ về sinh thành, biểu hiện qua sương, sương muối, tuyết. Sách viết: "大抵合而言之,上半年主長生,曰雨曰雷曰風,皆生之氣,下半年主生成,曰露曰霜曰雪,皆成之氣"[3]. Theo đó, Hàn Lộ thuộc nhóm tiết khí của nửa sau năm, mang tính "thành" thay vì "sinh", ứng với giai đoạn thu hoạch và tích tụ.

Tiết Hàn Lộ có tục lệ gì?

Trong văn hóa Việt Nam, các tiết khí nói chung và Hàn Lộ nói riêng ít được tổ chức thành lễ hội riêng biệt như Tết Nguyên Đán hay Tết Trung Thu. Tuy nhiên, đây là mốc thời gian quan trọng trong nông lịch, gắn với việc thu hoạch vụ mùa và chuẩn bị cho mùa đông.

Trong dân gian, tiết Hàn Lộ thường được nhắc đến như thời điểm trời bắt đầu se lạnh, người ta chú ý giữ ấm, ăn uống đồ ấm nóng và hạn chế ra ngoài lúc sớm, lúc tối.

Hàn Lộ trong các hệ thống thuật số và phong thủy được hiểu như thế nào?

Trong phong thủy Huyền Không, sao bay của tháng cũng tính theo tháng tiết khí, nên khoảng từ Hàn Lộ qua Sương Giáng tới trước Lập Đông dùng chung một sao tháng.

Trong sách Sử dụng la bàn, tác giả Thanh Thủy trình bày bàn "Thái âm đáo sơn" của la bàn Tam Hợp, phối 24 tiết khí với 24 sơn; ở đó Hàn Lộ ứng với sơn Tân: "Thái âm hàn lộ đáo tân sơn". Hiệp kỷ biện phương thư, quyển 2, cũng xếp Hàn Lộ vào sơn Tân trong dãy phối tiết khí với 24 sơn: "寒露辛"[1].

Trong Bát Tự (Tử Bình), Hàn Lộ là một trong 12 tiết đổi trụ tháng: người sinh từ giờ giao tiết Hàn Lộ tới trước giờ giao tiết Lập Đông có trụ tháng là tháng Tuất, không xét ngày âm lịch. Sương Giáng là trung khí nên không đổi trụ tháng.

Về ngũ hành, tháng Tuất là tháng cuối của mùa thu. Sách Tam mệnh thông hội, mục 論五行旺相休囚死并寄生十二宮, ghi: "秋金旺,金生水則水相,土生金則土休,火克金則火囚,金克木則木死"[3]. Theo đó, vào mùa thu, hành Kim vượng, hành Thủy được Kim sinh nên ở trạng thái "tướng", hành Thổ sinh Kim nên ở trạng thái "hưu" (nghỉ), hành Hỏa khắc Kim nên ở trạng thái "tù" (bị giam), hành Mộc bị Kim khắc nên ở trạng thái "tử".

Cũng sách này, mục 論人元司事, ghi phần "nhân nguyên" (tàng can) của tháng Tuất: "九月建戌,戌中有辛金用事七日,丙火墓庫五日,戊土一十八日"[3]. Tạm dịch: tháng Chín kiến Tuất, trong Tuất có Tân Kim giữ việc bảy ngày, Bính Hỏa ở mộ khố năm ngày, Mậu Thổ mười tám ngày.

Các sách Tam Mệnh Thông Hội và Tuế thời quảng ký hiểu tiết Hàn Lộ như thế nào?

Tuế thời quảng ký, quyển 3, gom các lời cổ về Hàn Lộ. Hiếu kinh vĩ viết: "秋分後十五日斗指辛為寒露" (sau Thu Phân mười lăm ngày, cán sao Bắc Đẩu chỉ phương Tân, ấy là Hàn Lộ); Chu thư Thời huấn kể ba hậu: "寒露之日鴻雁來賔後五日雀入大水後五日菊有黄華" (ngày Hàn Lộ hồng nhạn đến làm khách, năm ngày sau chim sẻ vào nước lớn, năm ngày sau nữa hoa cúc nở vàng)[2].

Tam mệnh thông hội đặt Hàn Lộ trong chuỗi chuyển hóa của hơi lạnh: sương từ trắng sang lạnh, tới Sương Giáng thì kết thành sương muối, rồi sang Tiểu Tuyết, Đại Tuyết; sách tóm lại: "寒氣始於露,中於霜,終於雪"[3]. Sách Chu Dịch hàm thư ước tồn của Hồ Hú chép gần nguyên văn đoạn này, chỉ khác ở chỗ viết "先白而後寒".

Muốn áp dụng tiết Hàn Lộ vào chọn ngày, chọn hướng hay xem vận hạn thì cần lưu ý gì?

Gợi ý của Nhật Nguyệt: Ngày giờ giao tiết Hàn Lộ đổi theo năm, nên việc nào cần dùng tháng tiết khí thì tra đúng giờ giao tiết của năm ấy, như bảng ở trên, thay vì lấy mặc định ngày 8 tháng 10.

Gợi ý của Nhật Nguyệt: Người sinh sát giờ giao tiết Hàn Lộ nên so giờ sinh với giờ giao tiết: sinh trước giờ ấy thì trụ tháng trong Bát Tự vẫn là tháng Dậu, sinh sau thì là tháng Tuất. Tử Vi không dùng tiết khí mà lấy tháng âm lịch của ngày sinh.

Bảng tóm tắt tiết Hàn Lộ gồm những thông tin gì?

Đặc điểmThông tin
Tên chữ Hán寒露 (Hàn Lộ)
Vị trí trong 24 tiết khíTiết thứ 17 (đếm từ Lập Xuân)
Kinh độ Mặt Trời195 độ
Ngày bắt đầu (dương lịch)Thường 8 tháng 10 (ngày 7 tới 9 tùy năm)
Ngày kết thúcTrước tiết Sương Giáng, thường ngày 23 tháng 10
Tháng theo tiết khíTháng Tuất (tháng Chín), kéo tới trước Lập Đông
Ba hậuHồng nhạn đến, chim sẻ vào nước hóa sò, hoa cúc nở vàng
Ý nghĩa tên gọiSương đã lạnh, sắp đông lại
MùaCuối thu

Câu hỏi thường gặp

Tiết Hàn Lộ kéo dài bao lâu?

Tiết Hàn Lộ kéo dài khoảng 15 ngày, từ khi Mặt Trời đạt kinh độ 195 độ đến khi đạt kinh độ 210 độ. Ngày bắt đầu thường là 8 tháng 10 dương lịch, ngày kết thúc là trước tiết Sương Giáng, thường giao tiết ngày 23 tháng 10.

Tiết Hàn Lộ có phải là Tết không?

Tiết Hàn Lộ không phải là một ngày Tết hay lễ hội lớn trong văn hóa Việt Nam. Đây là một tiết khí trong hệ thống 24 tiết, chủ yếu được dùng trong nông lịch để đánh dấu thời điểm chuyển mùa và trong các hệ thống thuật số để tính tháng theo tiết khí. Các lễ Tết lớn như Tết Nguyên Đán, Tết Trung Thu, Tết Đoan Ngọ mới là những dịp được tổ chức với nghi lễ và phong tục riêng.

Sinh vào tiết Hàn Lộ thì tính tháng sinh thế nào?

Trong Bát Tự, người sinh từ giờ giao tiết Hàn Lộ (thường ngày 8 tháng 10) tới trước giờ giao tiết Lập Đông (thường ngày 7 tháng 11) có trụ tháng là tháng Tuất, không xét ngày âm lịch. Tử Vi thì khác: lá số dùng tháng âm lịch của ngày sinh, không xét tiết khí. Người sinh đúng ngày giao tiết cần đối chiếu cả giờ sinh với giờ giao tiết của năm ấy.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Tiết Hàn Lộ bắt đầu ngày nào dương lịch?

Tiết Hàn Lộ bắt đầu khi Mặt Trời đạt kinh độ 195 độ, thường rơi vào ngày 8 tháng 10 dương lịch theo giờ Việt Nam; từ năm 1900 tới 2100 có năm rơi vào ngày 7 hoặc ngày 9. Tiết kéo dài khoảng 15 ngày, kết thúc khi tiết Sương Giáng bắt đầu thường vào ngày 23 tháng 10.

Tiết Hàn Lộ khác gì với tiết Bạch Lộ?

Tiết Bạch Lộ (白露) là tiết thứ 15, bắt đầu ngày 7 hoặc 8 tháng 9, khi sương còn trắng. Tiết Hàn Lộ (寒露) là tiết thứ 17, thường bắt đầu ngày 8 tháng 10, khi sương đã bắt đầu lạnh. Sự khác biệt nằm ở khí hậu: Bạch Lộ chỉ mô tả màu sắc của sương, còn Hàn Lộ mô tả khí lạnh của sương.

Tiết Hàn Lộ có ảnh hưởng gì đến việc chọn ngày tốt xấu?

Tiết Hàn Lộ mở đầu tháng Tuất, tức tháng Chín tính theo tiết khí, không trùng với tháng Chín âm lịch. Trong phép chọn ngày theo lịch can chi, thần sát của tháng tính theo tháng tiết này, nên từ giờ giao tiết Hàn Lộ trở đi các sao tốt xấu của tháng được tra theo tháng Tuất. Tuy nhiên, việc chọn ngày còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố khác như can chi ngày, giờ, và mục đích công việc cụ thể.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abDoãn Lộc (Trang thân vương, phụng sắc) và cộng sự (1741). Hiệp kỷ biện phương thư (欽定協紀辨方書, Khâm định, bản Tứ khố toàn thư, 36 quyển), Quyển 12, mục 氣候 (ba hậu); quyển 2 (phối tiết khí với 24 sơn)寒露 鴻鴈來賔 雀入大水為蛤 菊有黄華
  2. ↑ abTrần Nguyên Tịnh (không rõ năm). Tuế thời quảng ký (歲時廣記, bản Tứ khố toàn thư, 4 quyển), Quyển 3, mục 季秋月
  3. ↑ abcdeVạn Dân Anh (1578). Tam mệnh thông hội, quyển 2 (三命通會 卷二), các mục 論人元司事, 論四時節氣, 論五行旺相休囚死并寄生十二宮白露八月節,寒露九月節,秋木屬金,金色白,金氣寒,白者,露色,寒者,露之氣,先白而氣始寒,固有漸也

Đọc thêm

  • Chu Dịch hàm thư ước tồn, Trang 25白露八月節寒露九月節秋本屬金金色白金氣寒白者露之色寒者露之氣先白而後寒固有漸也
  • Hồ Hú (không rõ năm). Chu Dịch hàm thư ước tồn, ước chú, biệt tập (周易函書約存, 約註, 別集, Hồ Hú, bản Tứ khố toàn thư, 18, 18 và 16 quyển)
#TiếtHànLộ#24TiếtKhí#LịchÂm#TiếtKhí#HànLộ#ThángTuất#NôngLịch