Tới nội dung

Tri thức / Đông phương

Lịch âm

Tiết Thu Phân bắt đầu ngày nào và có tục lệ gì? Góc nhìn từ Tuế thời quảng ký và lịch pháp

Lịch pháp và thiên văn Phép tính lịch pháp.

Tiết Thu Phân bắt đầu ngày nào và có tục lệ gì? Góc nhìn từ Tuế thời quảng ký và lịch pháp

TL;DR: Tiết Thu Phân là tiết thứ 16 trong 24 tiết khí, bắt đầu vào ngày 22, 23 hoặc 24 tháng 9 dương lịch, lúc Mặt Trời tới hoàng kinh 180 độ; năm 2026 giao tiết lúc 07:09 ngày 23/9 theo giờ Việt Nam. Sách lịch xưa gọi đó là lúc Mặt Trời vào độ đầu cung Thìn, thứ Thọ Tinh. Tuế thời quảng ký đời Nam Tống chỉ chép vật hậu của tiết này: sấm thu tiếng, sâu bọ lấp hang, nước bắt đầu cạn. Ở Việt Nam, Thu Phân là mốc lịch pháp và thuật số, không phải ngày tết có lễ riêng.

Tiết Thu Phân là gì và rơi vào ngày nào?

Tiết Thu Phân là tiết thứ 16 trong 24 tiết khí, sau Bạch Lộ và trước Hàn Lộ, bắt đầu vào ngày 22, 23 hoặc 24 tháng 9 dương lịch tùy năm. Đó là lúc Mặt Trời tới hoàng kinh 180 độ, điểm đối diện Xuân Phân, khi ngày và đêm dài gần bằng nhau.

Tiết khí không tính theo ngày âm mà theo vị trí Mặt Trời trên hoàng đạo, hai tiết liền nhau cách nhau 15 độ. Từ năm 1950 tới 2050, phần lớn các năm giao tiết Thu Phân vào ngày 23 tháng 9 theo giờ Việt Nam, số ít vào ngày 22, rất ít vào ngày 24.

Hiệp kỷ biện phương thư, ở mục Nhật triền quá cung, chép: "秋分日躔辰宮初度是為壽星之次", nghĩa là ngày Thu Phân Mặt Trời vào độ đầu của cung Thìn, gọi là thứ Thọ Tinh[2]. Sách chia hoàng đạo thành mười hai cung mang tên địa chi, mỗi cung bắt đầu ở một trung khí, nên cung Thìn chạy từ 180 tới 210 độ hoàng kinh.

Vì sao tiết Thu Phân không có ngày cố định?

Thu Phân tính theo vị trí thật của Mặt Trời, mà một vòng của Mặt Trời trên hoàng đạo dài khoảng 365,24 ngày, không tròn 365 ngày như năm dương lịch thường. Giờ giao tiết vì thế mỗi năm muộn hơn năm trước gần 6 tiếng, rồi lùi lại một ngày vào năm nhuận.

Mốc giao tiết Thu Phân theo giờ Việt Nam, từ 2025 tới 2030:

NămNgày dươngGiờ giao tiết (UTC+7)
202523/901:22
202623/907:09
202723/912:55
202822/918:42
202923/900:30
203023/906:19

Về tháng âm, Tuế thời quảng ký dẫn Tam thống lịch: "白露為八月節秋分為八月中氣", tức Bạch Lộ là tiết mở đầu tháng Tám, Thu Phân là trung khí của tháng Tám[4]. Bảng tiết khí theo tháng âm trong Kinh dịch và hệ nhị phân của Hoàng Tuấn cũng đặt "Giữa Thu (Thu Phân)" ở tháng Tám, sau Bạch Lộ[3]. Ngày âm của Thu Phân trong tháng Tám đổi theo từng năm, nên không trùng với Tết Trung thu ngày rằm.

Tuế thời quảng ký ghi gì về tiết Thu Phân?

Tuế thời quảng ký (歲時廣記) là sách đời Nam Tống của Trần Nguyên Tịnh, gom lời các sách cũ về tiết tự trong năm, xếp theo tháng thành bốn quyển ứng với bốn mùa[4]. Thu Phân nằm ở mục tháng Trọng thu, quyển 3.

Mục ấy chép Nguyệt lệnh: tháng giữa thu "日夜分雷乃收聲蟄蟲坏户", ngày đêm chia đều, sấm thôi tiếng, sâu bọ lấp cửa hang. Rồi chép Chu thư Thời huấn chia tiết Thu Phân thành ba hậu: "秋分之日雷乃始收後五日蟄蟲坏户後五日水始涸", ngày Thu Phân sấm bắt đầu thu tiếng, năm ngày sau sâu bọ lấp hang, năm ngày sau nữa nước bắt đầu cạn; kèm lời điềm rằng sấm không thu thì mưa dầm, sâu bọ không lấp hang thì dân không có chỗ nương, nước không cạn thì loài có mai gây hại[4]. Các điều về Thu Phân trong mục này đều là vật hậu và lịch, không có điều nào tả lễ tục riêng của ngày ấy.

Tiết Thu Phân có tục lệ gì ở Việt Nam?

Thu Phân không phải một ngày tết có lễ riêng ở Việt Nam.

Trong mục Tứ thời tiết lạp của Việt Nam phong tục, Phan Kế Bính kể mười ngày tết trong năm: Nguyên đán, Hàn thực, Thanh minh, Đoan ngọ, Trung nguyên, Trung thu, Trùng cửu, Trùng thập, Táo quân, Trừ tịch; không có Thu Phân[5]. Thanh minh là tiết khí duy nhất trong danh sách ấy, và ông ghi "Ta không ăn Tết ấy", chỉ nhiều người nhân dịp ấy đi tảo mộ. Tết Trung thu tính theo ngày rằm tháng Tám âm lịch, không theo tiết khí.

Ở Trung Hoa, lễ gắn với Thu Phân là lễ của triều đình: Hiệp kỷ biện phương thư chép điển lễ nhà Thanh "秋分酉時祭夜明於夕月壇", giờ Dậu ngày Thu Phân tế thần Mặt Trăng ở đàn Tịch Nguyệt[2]. Đó là quốc lễ của nhà Thanh, không phải tục dân gian Việt.

Trong dân gian, Thu Phân chủ yếu được nhắc như một mốc thời vụ của mùa thu; không có nghi lễ chung nào giữa các vùng.

Tiết Thu Phân trong các môn thuật số và phong thủy

Thu Phân là một trong bát tiết. Bản dịch Hiệp kỷ biện phương thư, ở chú thích về bát tiết và tam kỳ, giải thích bát tiết là tám tiết Đông chí, Lập Xuân, Xuân phân, Lập Hạ, Hạ chí, Lập Thu, Thu phân, Lập Đông, còn tam kỳ là Ất, Bính, Đinh của Kỳ môn Độn Giáp[6].

Sách Sử dụng la bàn có bảng Thái âm đáo sơn phối 24 tiết khí với 24 sơn, trong đó ghi "Thái âm thu phân đáo dậu sơn"[7]: tiết Thu Phân ứng với sơn Dậu, như Xuân Phân ứng với sơn Mão.

Tháng sinh trong Tử Bình đổi ở tiết đầu tháng, không đổi ở trung khí. Kỳ Môn Chỉ Quy lấy ví dụ của nhà mệnh lý: người sinh trong tháng Tư âm lịch nhưng trước giờ giao Lập Hạ thì vẫn tính là tháng Ba[9]. Thu Phân là trung khí, nên sinh trước hay sau giờ giao Thu Phân đều thuộc tháng Dậu (tháng Tám tính theo tiết), kéo dài từ giờ giao Bạch Lộ tới giờ giao Hàn Lộ. Năm 2026, tháng Dậu chạy từ 21:41 ngày 7/9 tới 13:29 ngày 8/10 theo giờ Việt Nam.

Bảng đối chiếu tiết Thu Phân qua các hệ

Hệ thốngVai trò của tiết Thu PhânCách ghi nhận
Lịch phápTiết thứ 16, trung khí tháng TámMặt Trời vào độ đầu cung Thìn (thứ Thọ Tinh), hoàng kinh 180 độ
Tuế thời quảng kýMục tháng Trọng thuBa hậu: sấm thu tiếng, sâu bọ lấp hang, nước bắt đầu cạn
Kỳ môn Độn GiápMột trong bát tiếtCùng Đông chí, Lập Xuân, Xuân phân, Lập Hạ, Hạ chí, Lập Thu, Lập Đông
Thái âm đáo sơnỨng với sơn DậuThái âm thu phân đáo dậu sơn
Tử BìnhKhông đổi tháng sinhTháng Dậu tính từ Bạch Lộ tới Hàn Lộ

Có nên kiêng kỵ gì trong tiết Thu Phân không?

Không có văn bản lễ nghi nào đặt điều kiêng riêng cho chính ngày Thu Phân.

Phép chọn ngày kiêng ngày liền trước Thu Phân chứ không kiêng chính ngày ấy. Hiệp kỷ biện phương thư xếp ngày trước Xuân Phân, Hạ Chí, Thu Phân, Đông Chí vào Tứ ly, dẫn Tào Chấn Khuê: "秋分前一日隂體分而金亦離也", và dẫn Lý Đỉnh Tộ: "此日忌出行征伐", ngày ấy kiêng xuất hành, chinh phạt[2].

Gợi ý của Nhật Nguyệt: muốn lấy Thu Phân làm mốc cho việc của mình, hãy dùng đúng giờ giao tiết của năm ấy theo giờ Việt Nam như bảng ở trên, vì có năm giờ giao tiết rơi sát nửa đêm, như 00:30 ngày 23/9/2029.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Tiết Thu Phân năm nay rơi vào ngày nào dương lịch?

Tiết Thu Phân bắt đầu vào ngày 22, 23 hoặc 24 tháng 9 dương lịch tùy năm. Theo giờ Việt Nam, năm 2026 giao tiết lúc 07:09 ngày 23/9, năm 2027 lúc 12:55 ngày 23/9, năm 2028 lúc 18:42 ngày 22/9. Giờ giao tiết mỗi năm muộn hơn năm trước gần 6 tiếng rồi lùi lại một ngày vào năm nhuận, nên không thể lấy ngày năm trước cộng 365 ngày để suy ra.

Sinh trước hay sau giờ giao tiết Thu Phân thì tính tháng sinh thế nào?

Sinh trước hay sau giờ giao Thu Phân không đổi tháng sinh trong Tử Bình. Tháng sinh đổi ở tiết đầu tháng: tháng Dậu (tháng Tám tính theo tiết) bắt đầu từ giờ giao Bạch Lộ và hết ở giờ giao Hàn Lộ, còn Thu Phân là trung khí nằm giữa tháng ấy. Năm 2026, tháng Dậu chạy từ 21:41 ngày 7/9 tới 13:29 ngày 8/10 theo giờ Việt Nam.

Tiết Thu Phân có phải ngày Tết ở Việt Nam không?

Không. Thu Phân không phải ngày tết ở Việt Nam. Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính kể mười ngày tết trong năm (Nguyên đán, Hàn thực, Thanh minh, Đoan ngọ, Trung nguyên, Trung thu, Trùng cửu, Trùng thập, Táo quân, Trừ tịch) mà không có Thu Phân. Tết Trung thu rơi vào rằm tháng Tám âm lịch, khác với tiết Thu Phân tính theo vị trí Mặt Trời.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcDoãn Lộc (Trang thân vương, phụng sắc) và cộng sự (1741). Hiệp kỷ biện phương thư (欽定協紀辨方書, Khâm định, bản Tứ khố toàn thư, 36 quyển), quyển 6 (mục Tứ ly); quyển 12 (Công quy: mục Tự điển, mục Nhật triền quá cung)秋分日躔辰宮初度是為壽星之次
  2. ↑Hoàng Tuấn. Kinh dịch và hệ nhị phân, trang 224Giữa Thu (Thu Phân)
  3. ↑ abcTrần Nguyên Tịnh (không rõ năm). Tuế thời quảng ký (歲時廣記, bản Tứ khố toàn thư, 4 quyển), đề yếu; quyển 3, mục Trọng thu nguyệt三統厯曰白露為八月節秋分為八月中氣
  4. ↑Phan Kế Bính (1915). Việt Nam phong tục. Đăng trên Đông Dương tạp chí 1913-1914, in thành sách 1915; bản số hoá: Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, in lại 1973, mục XI. Tứ thời tiết lạp, từ trang 43Tết Thanh-Minh. Trong khoảng tháng ba, có một tiết hậu gọi là tiết Thanh-Minh.
  5. ↑Mai Cốc Thành (chủ biên) và cộng sự. Hiệp kỷ biện phương thư (bản dịch Vũ Hoàng, Lân Bình, hai tập), trang 119Bát tiết tức là trong 24 tiết khí lấy 8 tiết Đông chí, Lập Xuân, Xuân phân, Lập Hạ, Hạ chí, Lập Thu, Thu phân, Lập Đông.
  6. ↑Thanh Thủy. Sử dụng la bàn, trang 15Thái âm thu phân đáo dậu sơn
  7. ↑Kỳ Môn Chỉ Quy, phần 2, trang 2như tứ nguyệt mỗ nhật phương giao lập hạ tiết khí, kỳ tiết tiền tứ nguyệt nội sanh nhân, tất tác tam nguyệt toán

Đọc thêm

  • Hoàng Tuấn. Lý thuyết tượng số: ứng dụng Kinh Dịch và nguyên lý toán nhị phân, trang 16Tiết Thu Phân thường vào ngày 23 hay 24 tháng Chín Dương lịch.
  • Hồ Kinh Quốc và cộng sự. Tìm hiểu Cổ dịch Huyền không học, trang 94
  • Quốc sử quán triều Nguyễn (1884). Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Chính biên quyển 13 tới quyển 30: từ khởi nghĩa Lam Sơn 1418 tới 1599 (欽定越史通鑑綱目 正編 卷之十三至三十), trang 19
#TiếtThuPhân#24TiếtKhí#LịchÂm#TuếThờiQuảngKý#TiếtKhí#ThuPhân#LịchPhápPhươngĐông