Tới nội dung

Tri thức / Việt Nam

Xem ngày truyền thống

Vương Sung chê thuật chọn ngày trong Luận hành như thế nào?

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Vương Sung chê thuật chọn ngày trong Luận hành như thế nào?

TL;DR: Vương Sung (27-97 SCN) trong Luận hành phê phán thuật chọn ngày: ông cho rằng lành dữ của việc làm không do ngày tháng quyết định, mà do mệnh và thời. Các thiên Cơ nhật, Biện túy, Nạn tuế, Cật thuật bác sách kiêng ngày, tục tin không chọn ngày thì gặp họa túy, phép dời nhà kiêng Thái Tuế và thuật xem nhà theo họ. Ông chỉ ra rằng nhiều khi chọn ngày mà gặp họa, phạm kiêng mà được phúc. Đây là một trong những lời phản biện sớm nhất còn lại về thuật trạch cát.

Vương Sung và Luận hành: bối cảnh một tiếng nói phản biện

Vương Sung (王充, 27-97 SCN) sống dưới thời Đông Hán, làm quan nhỏ rồi về nhà viết sách. Ông để lại bộ Luận hành (論衡), một tập luận văn bàn rộng về mệnh, khí, quỷ thần, phong tục và các thuật bói toán đương thời. Bên cạnh phần bàn về mệnh, Luận hành còn có một phần ít được nhắc đến hơn: phê phán tục chọn ngày, kiêng kỵ và tin vào ma quỷ.

Nhóm thiên liên quan trực tiếp đến chủ đề này nằm ở quyển 23 tới 25 của Luận hành: Tứ húy (四諱, bốn điều kiêng lớn của tục), Cơ nhật (譏日, chê sách kiêng ngày), Bốc phệ (卜筮, bàn bói rùa và bói cỏ thi), Biện túy (辨祟, phân biệt chuyện họa túy), Nạn tuế (難歲, vặn hỏi tục kiêng Thái Tuế) và Cật thuật (詰術, vặn hỏi thuật xem nhà theo họ). Đây là một trong những văn bản sớm nhất còn lại phê phán thuật trạch cát.

Cơ nhật: Vương Sung chê tục kiêng ngày như thế nào?

Thiên Cơ nhật mở đầu bằng nhận xét rằng người đời đã tin kiêng năm tháng lại còn tin kiêng ngày: việc lớn gặp họa thì bảo là phạm năm tháng, việc nhỏ thì bảo là không tránh ngày cấm (世俗既信歲時,而又信日)[1]. Ông chọn những sách kiêng ngày phổ biến nhất rồi xét từng sách: lịch an táng (葬歷), lịch tế tự kiêng ngày huyết kỵ và nguyệt sát, sách gội đầu (沐書), sách cắt áo và sách của thợ chọn ngày dựng nhà.

Cách ông bác là so những việc cùng loại. Sách gội đầu ghi: "Gội ngày Tý thì được người yêu, gội ngày Mão thì bạc đầu" (子日沐,令人愛之。卯日沐,令人白頭). Vương Sung hỏi lại: người xấu như Mô Mẫu gội ngày Tý có được yêu không, cô gái mười lăm tuổi gội ngày Mão có bạc tóc không; rửa tay, rửa chân, tắm cũng là bỏ ghét như gội đầu mà không ai chọn ngày. Với lịch tế tự, ông chỉ ra rằng hàng thịt khắp nơi mỗi ngày giết hàng nghìn con vật, không chọn ngày lành dữ, mà người chết sớm chưa chắc là người đồ tể (海內屠肆,六畜死者日數千頭,不擇吉凶,早死者未必屠工也).

Thiên này còn nhắc tục kiêng học chữ vào ngày Bính vì truyền rằng Thương Hiệt chết ngày Bính, và lễ không cử nhạc ngày Tý, ngày Mão vì nhà Ân, nhà Hạ mất vào những ngày ấy. Vương Sung cho rằng kiêng như vậy là vì thương nhớ người xưa, "chưa chắc có hung họa" (殆有所諱,未必有凶禍也). Ông kết rằng phép của bậc vương giả làm việc thì xét việc người nên hay không, không hỏi ngày lành dữ (王法舉事以人事之可否,不問日之吉凶).

Lập luận của Vương Sung dựa trên hai trụ cột. Thứ nhất là mệnh: thiên Mệnh lộc viết "có cái mệnh sống chết thọ yểu, cũng có cái mệnh sang hèn nghèo giàu" (有死生壽夭之命,亦有貴賤貧富之命)[1]. Thứ hai là thời: thiên Biện túy viết "phúc họa đến là do thời, sống chết đến là do mệnh" (禍福之至,時也;死生之到,命也).

Biện túy: Vương Sung bác tục tin ma quỷ gây họa ra sao?

Thiên Biện túy (辨祟) nêu quan niệm của tục đương thời: bệnh tật, chết chóc, mắc tội đều vì động thổ, dời nhà, tế tự, tang lễ, đi xa, nhậm chức, cưới gả mà không chọn ngày lành, không tránh năm tháng, phạm phải quỷ thần[1]. Vương Sung gọi đó là lời nói càn (如實論之,乃妄言也) và chỉ ra cách niềm tin ấy tự duy trì: thấy việc tốt thì cho là nhờ chọn ngày, thấy việc xấu thì đổ cho phạm kiêng, trong khi "nhiều khi chọn ngày mà gặp họa, phạm kiêng mà được phúc" (多或擇日而得禍,觸忌而獲福).

Ông đưa ra những trường hợp đông người: bốn mươi vạn quân Triệu bị quân Tần chôn ở Trường Bình cùng chết một lúc, lúc ra khỏi nhà chưa chắc đã không chọn giờ; Kiệt, Trụ làm điều trái đạo mà không chết sớm, U Vương, Lệ Vương làm càn mà không chết yểu. Về bệnh, ông viết: "Bệnh của người ít khi không do gió ẩm và ăn uống" (人之疾病,希有不由風濕與飲食者), vậy mà người ta nằm chỗ gió ẩm rồi cầm tiền đi hỏi túy.

Thiên này kết bằng một phép thử: cho mười người ở một nhà, việc tế tự, cưới gả nào cũng chọn ngày lành, quanh năm không phạm điều kiêng, thì đến trăm năm có ai không chết. Kết luận của ông là sống chết tự có mệnh, không phải do phạm năm tháng (人之死生竟自有命,非觸歲月之所致).

Khổng Tử nói "kính quỷ thần nhi viễn chi" (kính trọng quỷ thần nhưng giữ khoảng cách). Vương Sung đi xa hơn: trong thiên Cơ nhật ông viết "trăm lễ tế không có quỷ, người chết không biết gì" (百祀無鬼,死人無知), và cho rằng tế lễ là để báo công, tỏ lòng không quên ơn.

Nạn tuế: Vương Sung chất vấn tục kiêng Thái Tuế như thế nào?

Thiên Nạn tuế (難歲) nhắm vào sách Di tỉ pháp (移徙法), tức phép dời nhà, với câu: "Dời nhà về phía Thái Tuế thì hung, dời nhà quay lưng về Thái Tuế cũng hung" (徙抵太歲凶,負太歲亦凶)[1]. Theo phép ấy, đi về phía Thái Tuế gọi là Tuế hạ, quay lưng lại gọi là Tuế phá; năm Thái Tuế ở Tý thì thiên hạ không được dời nhà theo hướng nam bắc, dựng nhà và cưới gả cũng phải tránh. Thái Tuế ở đây là vị thần của năm, thuật gia tin đứng ở một cung địa chi theo năm.

Vương Sung vặn hỏi: nếu Thái Tuế ghét người dời nhà thì mọi người dời nhà đều gặp họa; nếu nó ghét người chạm vào nó thì mọi người đi đường theo hướng nam bắc đều gặp tai ương (則道上之人南北行者皆有殃). Ông hỏi tiếp: năm chỉ là tên gọi của ngày tháng tích lại, nếu năm có thần thì ngày, tháng, giờ cũng có thần sao (歲而有神,日月時亦復有神乎). Ông kết rằng người ta sống thì không thể không dời nhà, còn thầy thuật thấy người chết thì quy họa cho lần dời nhà trước đó, nên lời về Thái Tuế truyền đời không dứt (工伎之人,見今人之死,則歸禍於往時之徙).

Bảng: Các thiên phê phán chọn ngày trong Luận hành

ThiênTên HánĐối tượng phê phánLập luận chính
Cơ nhật譏日Lịch an táng, lịch tế tự, sách gội đầu, sách cắt áo, sách chọn ngày dựng nhàViệc cùng loại mà chỉ một việc phải chọn ngày; phép vương giả xét việc nên hay không, không hỏi ngày
Biện túy辨祟Tục tin không chọn ngày, phạm năm tháng thì gặp họa túyNhiều khi chọn ngày mà gặp họa, phạm kiêng mà được phúc; sống chết do mệnh
Nạn tuế難歲Phép dời nhà kiêng Thái Tuế, Tuế pháNgười đi đường hướng nam bắc không gặp họa; năm có thần thì ngày, tháng, giờ cũng phải có thần
Cật thuật詰術Thuật xem nhà theo năm âm của họ (圖宅術)Nhà của người như tổ chim, hang thú; tổ, hang không có thứ tự Giáp Ất thì nhà cũng không

Vương Sung có phủ nhận hoàn toàn thuật chọn ngày không?

Không hẳn. Vương Sung giữ những phép chọn ngày có trong kinh lễ: ông dẫn sách Lễ "việc trong dùng ngày nhu, việc ngoài dùng ngày cương" (內事以柔日,外事以剛日) và hiểu đó là để phân định việc trong việc ngoài, không phải để luận họa phúc (剛柔以慎內外,不論吉凶以為禍福)[1]. Trong thiên Biện túy, ông viết thánh nhân làm việc thì trước định theo nghĩa, định xong mới dùng bói để tỏ ra không chuyên quyết một mình (聖人舉事,先定於義。義已定立,決以卜筮,示不專己). Điều ông phủ nhận là quan niệm cho rằng ngày tháng quyết định cát hung, và rằng phạm kiêng kỵ sẽ bị quỷ thần trừng phạt.

Đây là điểm quan trọng khi đọc Luận hành ngày nay: Vương Sung không phải nhà duy vật hiện đại. Ông vẫn tin vào mệnh, nhưng mệnh của ông là khí bẩm lúc sinh, không phải sự can thiệp của thần linh theo lịch.

Ảnh hưởng của Luận hành đến truyền thống trạch cát Việt Nam như thế nào?

Các nguồn của bài không cho thấy Luận hành đã làm thay đổi tục chọn ngày ở Việt Nam. Hiệp kỷ biện phương thư, sách chọn ngày do triều Thanh biên soạn, có bản dịch tiếng Việt của Vũ Hoàng, Lân Bình (NXB Mũi Cà Mau, 1998), mở phần nghĩa lệ bằng câu: thần sát chọn ngày thời xưa có các nhà Kiến Trừ, Kham dư, Tùng thần[3]. Ở mục Thái Tuế, sách này dẫn đúng câu của Di tỉ pháp mà Luận hành chép lại để bác (徙抵太歲凶,負太歲亦凶) làm chứng cho tên gọi Tuế hạ, Tuế phá, và vẫn coi Tuế phá là thần hung nhất (歲破為最凶之神).

Trần Trọng Kim trong sách Nho giáo (1930) giới thiệu Vương Sung với người đọc tiếng Việt qua thuyết mệnh và sự gặp, dẫn lời Luận hành: "Tiến lên là ở sự gặp, lui xuống là ở sự không gặp" (進在遇,退在不遇)[2]. Ông cũng nhận xét rằng những người như Đổng Trọng Thư, Dương Hùng, Vương Sung tuy đem chỗ sở đắc của mình mà đề xướng, nhưng ảnh hưởng của họ "không biến được cái tư trào của tục học".

Đọc Luận hành hôm nay để giữ gìn và phản biện như thế nào?

Ngày nay, nhiều người Việt vẫn xem ngày tốt xấu trước khi làm việc lớn: cưới hỏi, động thổ, khai trương, xuất hành. Đây là một phần của văn hóa truyền thống, phản ánh mong muốn an tâm và tôn trọng nhịp điệu tự nhiên. Đọc Vương Sung không có nghĩa là bác bỏ hoàn toàn truyền thống, mà là hiểu rằng truyền thống ấy đã từng bị chất vấn ngay từ thời Đông Hán, và rằng việc chọn ngày có thể hữu ích như một nghi thức tâm lý, nhưng không nên gán cho nó quyền quyết định số phận.

Gợi ý của Nhật Nguyệt: giữ nghi thức như một phần văn hóa, nhưng không để nó gây lo lắng quá mức hay tốn kém vô ích.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Vương Sung sống ở thời nào và viết Luận hành khi nào?

Vương Sung (27-97 SCN) sống dưới thời Đông Hán. Ông viết Luận hành sau khi về nhà, trong nửa sau thế kỷ thứ nhất. Bộ sách gồm nhiều thiên bàn về mệnh, khí, quỷ thần và phê phán phong tục đương thời.

Vương Sung phê phán thuật chọn ngày dựa trên lập luận gì?

Ông chỉ ra rằng nhiều khi chọn ngày mà gặp họa, phạm kiêng mà được phúc, còn người ta chỉ nhớ những lần trùng khớp. Ông so những việc cùng loại: gội đầu phải chọn ngày mà rửa tay, tắm thì không; vật tế phải tránh ngày huyết kỵ mà hàng thịt giết hằng ngày không gặp họa. Theo ông, phúc họa đến là do thời, sống chết đến là do mệnh.

Luận hành có phủ nhận hoàn toàn việc chọn ngày không?

Không hẳn. Ông giữ phép trong sách Lễ dùng ngày nhu cho việc trong, ngày cương cho việc ngoài, nhưng hiểu đó là để phân định việc, không để luận họa phúc. Điều ông phủ nhận là quan niệm cho rằng ngày tháng quyết định cát hung, hoặc phạm kiêng kỵ thì bị quỷ thần trừng phạt.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdeVương Sung (không rõ năm). Luận hành, tám thiên về mệnh và chọn ngày (論衡: 命祿, 氣壽, 命義, 偶會, 譏日, 辨祟, 難歲, 詰術), Quyển 1, thiên Mệnh lộc (命祿); quyển 24, thiên Cơ nhật (譏日), Biện túy (辨祟), Nạn tuế (難歲); quyển 25, thiên Cật thuật (詰術)多或擇日而得禍,觸忌而獲福。
  2. ↑Trần Trọng Kim (1930). Nho giáo. (bản chế lại từ ấn bản phạm vi công cộng), trang 109Tiến lên là ở sự gặp, lui xuống là ở sự không gặp.
  3. ↑Mai Cốc Thành (chủ biên) và cộng sự. Hiệp kỷ biện phương thư (bản dịch Vũ Hoàng, Lân Bình, hai tập), trang 46-47, Tổng luận
#VươngSung#LuậnHành#ThuậtChọnNgày#TrạchCát#CơNhật#BiệnTúy#NạnTuế#XemNgàyTruyềnThống#ĐôngHán