Tri thức / Đông phương / Tử Vi Đẩu Số

Tử vi

Lục xung địa chi là gì? Sáu cặp xung và chuyện 'xung mở kho' Thìn Tuất Sửu Mùi

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Lục xung địa chi là gì? Sáu cặp xung và chuyện 'xung mở kho' Thìn Tuất Sửu Mùi

TL;DR: Lục xung là sáu cặp địa chi đối nhau trong vòng 12 chi: Tý xung Ngọ, Sửu xung Mùi, Dần xung Thân, Mão xung Dậu, Thìn xung Tuất, Tỵ xung Hợi. Sách Tăng san bốc dịch chép 'xung giả tán dã', nghĩa là xung làm tán, nên việc hung gặp xung thì tan, việc cát gặp xung thì dễ đổ vỡ. Nhưng xung cũng có thể mở kho, phá thế bế tắc, và trong một số trường hợp lại là điều hay, tùy theo dụng thần mạnh hay yếu.

Lục xung địa chi là gì?

Lục xung là sáu cặp địa chi nằm đối nhau trong vòng 12 chi, cách nhau đúng sáu vị trí. Đó là Tý xung Ngọ, Sửu xung Mùi, Dần xung Thân, Mão xung Dậu, Thìn xung Tuất, Tỵ xung Hợi. Trong môn bốc dịch, xung không chỉ là một quan hệ hình học giữa các chi, mà là một lực tác động cụ thể lên hào, lên quẻ, và lên dụng thần. Sách Tăng san bốc dịch chép rõ: 'xung giả tán dã', nghĩa là xung làm tán. Từ đó mới có nguyên tắc 'việc hung gặp xung thì tan, việc cát gặp xung thì không nên'. Nhưng câu chuyện không dừng ở đó, vì xung còn có thể mở kho, phá thế bế tắc, và trong một số trường hợp lại là điều hay.

Sáu cặp lục xung và vị trí của chúng trong vòng 12 chi là gì?

Vòng 12 địa chi bắt đầu từ Tý, đi theo chiều thuận: Tý, Sửu, Dần, Mão, Thìn, Tỵ, Ngọ, Mùi, Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Mỗi cặp xung là hai chi cách nhau sáu bước, tức là đối diện nhau qua tâm vòng tròn. Bảng dưới đây liệt kê sáu cặp xung cùng vị trí và ngũ hành tương ứng:

Cặp xungVị trí trong vòng 12 chiNgũ hành
Tý xung Ngọ1 và 7Thủy xung Hỏa
Sửu xung Mùi2 và 8Thổ xung Thổ
Dần xung Thân3 và 9Mộc xung Kim
Mão xung Dậu4 và 10Mộc xung Kim
Thìn xung Tuất5 và 11Thổ xung Thổ
Tỵ xung Hợi6 và 12Hỏa xung Thủy

Xét theo ngũ hành, bốn cặp là hai hành khắc nhau: Tý Ngọ và Tỵ Hợi là Thủy với Hỏa (Thủy khắc Hỏa), Dần Thân và Mão Dậu là Kim với Mộc (Kim khắc Mộc). Hai cặp còn lại, Sửu Mùi và Thìn Tuất, là Thổ gặp Thổ. Trong Tăng san bốc dịch, Dã Hạc lão nhân viết rằng luận xung thì 'tất kiêm dụng thần nhi ngôn' (必兼用神而言), tức phải xét cùng với dụng thần đang vượng hay suy, không chỉ nhìn cặp xung mà đoán[1].

Cơ chế của xung trong bốc dịch

Chương Lục xung của Tăng san bốc dịch kể sáu lối xung: một là ngày, tháng xung hào; hai là quẻ gặp lục xung; ba là quẻ lục hợp biến thành lục xung; bốn là quẻ lục xung biến thành lục xung; năm là hào động biến ra hào xung lại nó; sáu là hào với hào xung nhau[1]. Riêng với một hào, sách tách tiếp: hào bị tháng xung gọi là nguyệt phá; hào gặp ngày xung là ám động; hào hưu tù mà gặp ngày xung thì gọi là nhật phá. Sách thêm rằng dụng thần vượng thì 'tuy xung bất phá', dù bị xung cũng không vỡ, còn dụng thần thất hãm thì 'hung nhi hựu hung', đã hung lại thêm hung[1].

Xung của ngày còn làm một hào tĩnh thành ra có lực. Chương Ám động viết: hào tĩnh mà vượng tướng, ngày xung vào thì là ám động (靜爻旺相日辰沖之爲暗動), và ám động 'có hỷ có kỵ' tùy hào ấy sinh hay khắc dụng thần[1]. Trong ví dụ ở chương Lục xung, tháng Tỵ ngày Mậu Tuất, hỏi về tiền tài, được quẻ Phong Lôi Ích; hào Tài Thìn thổ trì thế đang tuần không, ngày Tuất xung vào, sách gọi là 'xung không điền thực' (沖空塡實) và chép người hỏi được tiền ngay trong ngày[1].

Xung mở kho: Thìn Tuất Sửu Mùi và chuyện 'mộ khố' là gì?

Trong bốc dịch và tứ trụ, Thìn, Tuất, Sửu, Mùi được gọi là bốn mộ khố. Chương Sinh vượng mộ tuyệt của Tăng san bốc dịch ghi: Kim mộ ở Sửu, Mộc mộ ở Mùi, Thủy và Thổ mộ ở Thìn; phần tổng chú về ứng kỳ lấy Hỏa mộ ở Tuất[1]. Theo sách, mộ là trệ (墓者,滯也): hào nhập mộ thì việc bị ngưng lại. Phần tổng chú ấy có câu 'nhập tam mộ câu hỷ xung khai' (入三墓俱喜沖開), kèm ví dụ: hào chủ sự là Ngọ hỏa, hỏa mộ ở Tuất, về sau gặp ngày Thìn thì ứng. Chương Lục hợp, khi bàn tam hợp cục, cũng viết: có một hào nhập mộ thì đợi ngày xung khai mới thành (有一爻入墓者待沖開之日成之)[1]. Đó là chỗ dựa trong sách của cách nói 'xung mở kho'.

Sách chép hai quẻ làm ví dụ. Tháng Tuất ngày Giáp Dần, một người hỏi thi Hội có đỗ liền không; hào thế Ngọ hỏa mang Quan quỷ nhập mộ ở tháng Tuất, động lại hóa Tuất. Dã Hạc đoán sang năm Thìn 'xung khai mộ khố' là kỳ yết bảng, và sách ghi kết quả đúng như lời đoán. Tháng Thân ngày Kỷ Sửu, một người hỏi bệnh, hào thế Dậu kim nhập mộ ở ngày Sửu; sách chép người ấy tỉnh dậy vào ngày Mùi, là ngày xung khai mộ Sửu[1]. Cả hai lần sách đều kèm điều kiện hào thế vượng tướng; ở chỗ khác sách viết thế hào không, phá, hưu tù thì 'chung vô thành nhật', rốt cuộc không có ngày thành.

Khi nào xung là tốt, khi nào xung là xấu?

Sách Tăng san bốc dịch nói rõ: 'phàm chiêm hung sự nghi ư xung tán, chiêm cát sự nhi bất nghi'. Nghĩa là việc hung mà gặp xung thì nên, vì xung làm tan cái hung; việc cát mà gặp xung thì không nên, vì xung làm tan cái cát. Nhưng quy tắc này phải đặt trong tương quan với dụng thần. Nếu dụng thần vượng, gặp xung có thể vẫn không hại, thậm chí có khi còn kích hoạt. Nếu dụng thần suy nhược, gặp xung thì càng thêm nguy.

Ví dụ trong Tăng san bốc dịch: tháng Dậu, ngày Ất Mùi, hỏi con đi xa lâu ngày không về sống chết ra sao, được quẻ Khôn, là quẻ lục xung. Hào Tử tôn Dậu kim trì thế lại lâm nguyệt kiến, được ngày Mùi sinh, nên Dã Hạc đoán 'con ắt về', và sách chép về sau người con trở về[1]. Ngược lại, sách viết quẻ lục hợp biến lục xung thì mọi việc 'tiên hợp hậu ly', trước hợp sau lìa, và kèm một quẻ tháng Tỵ ngày Giáp Dần hỏi việc mời thầy dạy con, được quẻ Bĩ biến Càn: Dã Hạc đoán việc không bền, sách chép hai tháng sau người con ốm rồi mất, thầy cũng thôi dạy[1].

Đối chiếu các quan điểm

Trích Thiên Tủy là sách tứ trụ, nhìn xung theo cách khác. Câu gốc viết 'chi thần chỉ dĩ xung vi trọng', trong quan hệ giữa các chi thì xung là nặng nhất; nguyên chú giải rằng xung tất là tương khắc nên tất động. Về bốn kho, câu gốc viết 'sinh phương phạ động, khố nghi khai', nguyên chú nói Thìn Tuất Sửu Mùi nên xung khai. Nhậm Thiết Tiều trong Trích Thiên Tủy xiển vi không theo hẳn ý ấy: ông viết xung bốn kho 'cũng có khi nên, có khi không nên', cho rằng nói mộ khố gặp xung thì phát là cái sai của người đời sau, và bình một lá số rằng bảo bốn kho tất phải xung là lối luận chấp nhất[2]. Như vậy cùng chuyện xung mở kho, sách bốc dịch và sách tứ trụ, thậm chí nguyên chú và người chú sau trong cùng một sách, không nói một lời.

Gợi ý áp dụng hôm nay

Gợi ý của Nhật Nguyệt: đọc tới chữ xung trong một quẻ hay một lá số, nên hỏi lại sách nào đang nói và điều kiện đi kèm là gì. Tăng san bốc dịch luôn buộc xung vào dụng thần vượng hay suy; Trích Thiên Tủy xiển vi còn bác cả ý kho gặp xung thì phát. Đây là quy ước của từng phái thuật số, chưa được kiểm chứng, nên không dùng làm căn cứ cho quyết định tiền bạc hay việc lớn.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Lục xung địa chi là gì?

Lục xung là sáu cặp địa chi đối nhau trong vòng 12 chi: Tý xung Ngọ, Sửu xung Mùi, Dần xung Thân, Mão xung Dậu, Thìn xung Tuất, Tỵ xung Hợi. Mỗi cặp cách nhau sáu vị trí, tạo thành sáu cặp xung cơ bản trong bốc dịch và tứ trụ.

Xung mở kho Thìn Tuất Sửu Mùi nghĩa là gì?

Thìn, Tuất, Sửu, Mùi được gọi là bốn mộ khố. Theo Tăng san bốc dịch, hào nhập mộ thì việc bị ngưng lại, đợi ngày tháng xung với kho mới ứng, với điều kiện hào ấy vượng. Ví dụ trong sách: hào Ngọ hỏa mộ ở Tuất, về sau gặp ngày Thìn thì ứng. Trích Thiên Tủy xiển vi của Nhậm Thiết Tiều lại cho rằng nói kho gặp xung thì phát là sai.

Gặp lục xung có phải luôn xấu?

Không. Sách Tăng san bốc dịch nói 'xung giả tán dã', việc hung gặp xung thì tan, việc cát gặp xung thì dễ đổ vỡ. Nhưng phải xét dụng thần mạnh hay yếu. Nếu dụng thần vượng, xung có thể không hại, thậm chí kích hoạt điều tốt. Nếu dụng thần suy, xung mới thực sự nguy hiểm.

Bài này thuộc chủ đề Tử Vi Đẩu Số. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Tử Vi Đẩu Số.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghijDã Hạc lão nhân và Lý Văn Huy (tăng san) (không rõ năm). Tăng san Bốc Dịch (增刪卜易), Chương 20, Lục xung chương子午相沖、丑未相沖、寅申相沖、卯酉相沖、辰戌相沖、巳亥相沖。
  2. ↑Nhậm Thiết Tiều (chú) và cộng sự (không rõ năm). Trích Thiên Tủy xiển vi (滴天髓闡微), Thông thần luận, chương 1欲识三元万法宗,先观帝载与神功。
#LụcXung#ĐịaChi#TăngSanBốcDịch#TríchThiênTủy#XungMởKho#ThìnTuấtSửuMùi#BốcDịch#TửVi