Dân tộc Thái: nơi cư trú, tiếng nói, tập tục thờ cúng và lễ hội chính
Dân tộc Thái ở Việt Nam gồm ngành Đen và ngành Trắng, nói nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, sống trong bản mường, thờ tổ tiên và giữ nhiều lễ hội truyền thống.
Tra cứu
Hồ sơ giúp anh chị
Gói của Nhật Nguyệt
Hầu hết tiện ích không cần tài khoản. Hồ sơ để lưu và đọc tiếp.
Chọn ngôn ngữ
Trang này chưa có đủ ba bản ngôn ngữ.
Dân tộc Thái ở Việt Nam gồm ngành Đen và ngành Trắng, nói nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, sống trong bản mường, thờ tổ tiên và giữ nhiều lễ hội truyền thống.
Tín ngưỡng vạn vật hữu linh của người Thái Tây Bắc gắn với lễ Xên bản Xên mường cầu mưa thuận gió hòa và hội Hạn Khuống hát giao duyên sau vụ gặt.
Khám phá lễ hội cầu mưa của người Thái ở Tây Bắc Việt Nam: nguồn gốc, nghi thức, ý nghĩa tâm linh và vai trò trong đời sống cộng đồng nông nghiệp.
So sánh nhà ba gian Bắc Bộ, nhà rường Huế, nhà rông Tây Nguyên và nhà sàn Tây Bắc qua kết cấu, không gian thờ cúng và vai trò cộng đồng.
Tết Hoa mào gà là lễ hội lớn nhất năm của người Cống ở Điện Biên, ở Pa Thơm thường vào khoảng rằm tháng 10 Âm lịch; hoa mào gà là hoa linh thiêng khi cúng.
Lễ Kin Pang Then là lễ đầu xuân của người Thái trắng, do các thầy Then đứng lễ để tạ ơn con nuôi. Bài viết kể thời gian, lễ vật, các lễ thức và ý nghĩa.
Nàng Han, nữ anh hùng huyền thoại của người Thái trắng, cải trang nam nhi đánh đuổi giặc phương Bắc, được thờ phụng qua lễ hội rằm tháng Giêng âm lịch.
Tết Doi là lễ hội mời bà lúa, cô lúa về bản của người Mường xã Thu Cúc, Phú Thọ, gắn với nghi lễ rước lúa từ đền thờ Nàng Cúc.
Khám phá tục nhuộm răng đen từng là một nét đẹp của người Lự ở Lai Châu, cùng những giá trị văn hóa đặc sắc khác đang được gìn giữ.
Dân tộc Si La cư trú ở Mường Tè, Lai Châu, nói tiếng thuộc nhóm Tạng Miến, thờ cúng tổ tiên và có lễ cúng bàn, tết năm mới, tết cơm mới.
Việt Bắc và Đông Bắc là hai cách gọi có phạm vi khác nhau. Bài phân tích hát Then, chợ phiên, nếp sống bản làng và các dị bản theo từng địa phương.
Khám phá lễ hội Khai hạ của người Mường Hòa Bình: nguồn gốc, ý nghĩa tâm linh, các nghi thức đặc sắc và vai trò của lễ hội trong đời sống văn hóa cộng đồng.
Dân tộc Mường thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, cư trú chủ yếu ở Hòa Bình, Thanh Hóa, Phú Thọ, có kho tàng mo, lễ hội và tập tục thờ cúng riêng.
Khám phá vai trò của Mo Mường trong tang lễ, những áng mo tiễn đưa linh hồn người Mường về Mường Trời, cùng các giá trị văn hóa và thách thức bảo tồn di sản.
Mo Mường, di sản văn hóa phi vật thể của người Mường, gắn với sử thi "Đẻ đất đẻ nước", bách khoa thư dân gian về lịch sử, tín ngưỡng và triết lý sống.
Tết cơm mới của người Mường ở xã Hương Cần, Phú Thọ diễn ra ngày 10 tháng Mười âm lịch: ông Lang cúng tại đình Khoang, rồi các nhà mới được gặt lúa.
Phong tục cưới hỏi của người Mường gồm tục chạy theo người yêu, lạy ma nhà, sính lễ bánh trưng, lễ trả công bên ngoại và kiêng kỵ ngày cưới.
Lễ hội Văn hóa, Du lịch Mường Lò 2026 tại Lào Cai diễn ra 1 tới 7/10, khai mạc 20 giờ ngày 2/10, gắn với 5 năm Xòe Thái được UNESCO ghi danh.
Văn hoá Tây Bắc gồm cộng đồng cư trú đa dân tộc, tín ngưỡng, lễ hội theo mùa và nghề thủ công truyền thống, mỗi nhóm ngành mang bản sắc riêng.
Dân tộc Lào ở Việt Nam gọi mình là Thay, nói tiếng nhóm Tày - Thái, sống ở Lai Châu và Sơn La, thờ tổ tiên và đón Tết Bun Pi May tháng 4 âm lịch.
Dân tộc Lự thuộc nhóm ngôn ngữ Tày - Thái, cư trú chủ yếu ở Lai Châu, với tập tục thờ cúng và các lễ hội truyền thống mang đậm bản sắc văn hoá riêng.
Tổng quan về nghi lễ vòng đời của người Việt và các dân tộc: từ cúng đầy tháng, thôi nôi, cưới hỏi, lễ trưởng thành, mừng thọ đến tang lễ, giỗ chạp.
Tổng quan các ngày lễ Tết Việt Nam trong năm: Tết Nguyên Đán, Rằm tháng Giêng, Thanh Minh, Đoan Ngọ, Trung Thu, Tết của các dân tộc và các dịp cúng lễ khác.
Dân tộc Kháng cư trú lâu đời ở Tây Bắc, chủ yếu tại Lai Châu và Sơn La, nói tiếng nhóm Môn - Khơ Me, thờ cúng tổ tiên và có lễ hội riêng.
Tổng quan các loại lễ hội truyền thống Việt Nam: lễ hội nông nghiệp, lễ hội tín ngưỡng, lễ hội tưởng niệm và lễ hội dân tộc.
Việt Nam có 54 dân tộc theo Danh mục các thành phần dân tộc năm 1979. Danh mục chính thức, phân bố theo vùng và nét văn hoá chung.
Dân tộc Thổ thuộc nhóm ngôn ngữ Việt Mường, cư trú chủ yếu ở miền Tây Nghệ An và Thanh Hoá, có hệ thống thờ cúng thần linh, tổ tiên và bà mụ riêng.
Dân tộc Chứt thuộc nhóm ngôn ngữ Việt - Mường, cư trú chủ yếu ở Quảng Bình, có các nhóm Mày, Rục, Sách, Arem, Mã Liềng với tập tục thờ cúng và lễ hội riêng.
Lễ hội đền Tép thờ Trung Túc Vương Lê Lai ở xã Kiên Thọ, Thanh Hóa có hai kỳ: 21/8 âm lịch và 8/1 âm lịch, theo lệ vua Lê Lợi đặt giỗ trước một ngày.
Tết Sử Giề Pà (Lễ tạ ơn trâu) của người Bố Y ở Lào Cai diễn ra ngày 8/4 âm lịch với mâm lễ chung của cả làng, tạ ơn trâu và cầu mùa màng.
Dân tộc Giáy cư trú ở Lào Cai, Hà Giang, Lai Châu, nói tiếng thuộc ngữ hệ Thái - Ka Đai. Tín ngưỡng gắn với bàn thờ gian giữa và các lễ tết.
Xoè Thái là loại hình múa dân gian tiêu biểu của người Thái Tây Bắc, gồm sáu điệu xoè cổ, được UNESCO ghi danh năm 2021 và thực hành rộng khắp trong đời sống.
Tết Khụ Sự Chà của người Hà Nhì ở Mường Nhé, Điện Biên là dịp tạ ơn tổ tiên, sum họp gia đình với nghi lễ cúng bánh trôi, bói gan lợn và giã bánh dày.
Dân tộc La Hủ nói tiếng thuộc nhóm Tạng - Miến, cư trú chủ yếu ở Mường Tè, Lai Châu, với tập tục thờ cúng tổ tiên và các lễ hội như tết tháng bảy, cơm mới.
Phong tục các dân tộc thiểu số Việt Nam đa dạng ở cưới hỏi, dựng nhà, thờ cúng và ứng xử cộng đồng, gắn với môi trường sống và tín ngưỡng bản địa.
Tín ngưỡng thờ Chúa Thác Bờ ở Hòa Bình gắn với hai nữ tướng thời Lê Lợi có công vận chuyển lương thảo qua sông Đà, thể hiện sự tri ân của người dân.
Dân tộc Hà Nhì thuộc nhóm ngôn ngữ Tạng Miến, cư trú ở Lai Châu và Lào Cai, có tập tục thờ cúng tổ tiên theo gia đình và các lễ tết riêng.
Mười tám đời vua Hùng và nước Văn Lang được sử cũ chép thế nào, phần nào là truyền thuyết? Bài phân tích nguồn sử, mười lăm bộ và tín ngưỡng thờ Hùng Vương.
Đi viếng đám tang nên mặc áo tối màu, kín đáo, tránh lòe loẹt. Phúng viếng bằng tiền, hương, vòng hoa tùy mức thân sơ. Lời chia buồn ngắn, chân thành.
Dân tộc Chu Ru sống chủ yếu ở Lâm Đồng và Ninh Thuận, nói tiếng nhóm Malayô-Polynêxia, theo chế độ mẫu hệ, thờ cúng gắn với chu kỳ canh tác ruộng nước.
Quẻ Sơn Hỏa Bí (quẻ 22) trong Kinh Dịch nói về vẻ đẹp hình thức, sự trang sức và văn hóa bề ngoài, kèm ứng dụng trong cuộc sống, công việc, giao tiếp.
Quẻ Hỏa Lôi Phệ Hạp (quẻ 21) trong Kinh Dịch: tượng quẻ, ý nghĩa về pháp chế, xử lý trở ngại và ứng dụng lời khuyên vào công việc, các mối quan hệ.
Nguyệt phá trong Lục Hào là hào bị chi tháng xung, thường lấy làm điềm suy bại. Bài phân tích khi nào phá mà không phá theo Tăng san bốc dịch và các phái.
155 loại lễ cúng của người Việt Nam chia 15 nhóm, từ gia tiên, giỗ chạp, Tết, tiết lễ trong năm tới tang ma, đình đền phủ và lễ của các dân tộc; mỗi lễ kèm tên khác, thời điểm, đối tượng cúng, mô tả ngắn, các trục phân loại (chu kỳ, không gian, đối tượng thờ, truyền thống, dân tộc, vùng văn hoá), ngày lễ có cấu trúc và đoạn phong tục có nguồn. Là bảng khoá của các bộ văn cúng và phong tục lễ cúng của Nhật Nguyệt.