
TL;DR: Tục bốc mộ, còn gọi cải táng hay sang cát, là việc khai quật hài cốt để an táng lại. Theo Phan Kế Bính ghi trong Việt Nam phong tục, việc này thường được làm sau khi mãn tang ba năm, hoặc thêm một vài năm nữa. Phong tục không đặt mốc bắt buộc; quy định vệ sinh hiện hành của Bộ Y tế đòi từ khi mai táng đến khi cải táng không dưới 36 tháng.
Bốc mộ cải táng là gì và vì sao có tục này?
Bốc mộ, còn gọi là cải táng, sang cát, hay dời mộ, là nghi lễ khai quật phần mộ đã an táng trước đó để nhặt hài cốt, vệ sinh và an táng lại ở nơi mới hoặc trong cùng khu mộ. Đây là một nghi thức thuộc vòng đời người Việt, nằm trong nhóm nghi lễ tang ma và thờ cúng tổ tiên.
Theo Phan Kế Bính, trong Việt Nam phong tục, tục cải táng có nhiều cớ khác nhau[2]. Ông kể năm cớ, bốn cớ đầu là: thứ nhất, nhà nghèo lúc cha mẹ qua đời chẳng xoay đủ tiền, đành tậu tạm một cỗ ván tồi, chờ hết ba năm rồi cải táng vì e ván mục rữa sẽ làm hại di hài; thứ hai, nơi chôn bị mối kiến đục khoét hoặc nước lụt ngập; thứ ba, mộ vướng vào đường cái hay thành mới mở nên buộc lòng phải cải táng; thứ tư, những nhà tin địa lý, hễ thấy mộ tự dưng lún đất, cây trên mộ bỗng khô héo, hay trong nhà có người ốm đau, cãi cọ, kiện tụng thì quy cho đất xấu mà cải táng.
Cũng theo Phan Kế Bính, tục này bắt nguồn từ quan niệm về mối liên hệ giữa hài cốt tổ tiên và con cháu: hễ hài cốt tổ tiên được ấm cúng thì con cháu mới yên, hài cốt không yên thì con cháu cũng không yên.
Bốc mộ cải táng sau mấy năm?
Khoảng thời gian phổ biến nhất được ghi nhận là sau khi mãn tang, tức sau ba năm, hoặc thêm một vài năm nữa. Phan Kế Bính viết rằng sau khi đoạn tang ba năm, hoặc một vài năm nữa, con cái mới lo chuyện cải táng cho người đã khuất.
Đỗ Lan Hiền, trong bài nghiên cứu về tang lễ người Việt đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo năm 2013, cũng ghi nhận tục lệ này phần lớn được thực hiện trong tầng lớp dân nghèo: vì túng thiếu, lúc cha mẹ mất con cái chẳng đủ tiền lo liệu, buộc phải sắm tạm một cỗ áo quan gỗ xấu, chờ ba tới năm năm sau mới cải táng, bởi lo ván mục sập nát sẽ tổn hại di hài[1].
Về quy định hiện hành, Thông tư 21/2021/TT-BYT của Bộ Y tế (Điều 9) ghi thời gian cải táng có thể khác nhau tùy chất đất, phong tục tập quán và tín ngưỡng của từng dân tộc, địa phương, nhưng từ khi mai táng đến khi cải táng không dưới 36 tháng[3].
Có phải lúc nào cũng phải bốc mộ?
Không. Phan Kế Bính ghi rõ rằng tục cải táng tuy có người theo, song cũng lắm người khi hung táng đã sắm sửa quan quách chu đáo thì chẳng cần cải táng nữa. Nhiều người vì quá tin vào địa lý nên rước thầy địa lý về nhà cung phụng hai ba tháng để tìm đất; có nhà thấy trong nhà không yên lại đem cải táng, thậm chí có khi cải táng tới năm sáu lần, ông nhận xét thêm như vậy. Theo cụ, nếu con cháu giữ lòng kính trọng và thương xót tiên nhân thì chớ nên dịch chuyển hài cốt nhiều lần, chỉ làm khi thật bất đắc dĩ.
Theo Đỗ Lan Hiền, tục cải táng thời xưa không hề là nghi thức bắt buộc, và càng không nắm vai trò quyết định hay chi phối vận mệnh của người đang sống[1].
Tục cải táng phổ biến ở vùng nào?
Theo Đỗ Lan Hiền, địa táng rồi sau ba đến năm năm bốc mộ là tập quán của người Việt chủ yếu ở vùng Đồng bằng Bắc Bộ, và tới nay vẫn được duy trì[1]. Phan Kế Bính cũng ghi tục này có người theo, song nhiều người lúc hung táng đã sắm quan quách kỹ càng thì không cải táng nữa[2].
Các trường hợp cụ thể và cách xử lý ra sao?
Khi mộ bị mối kiến, nước lụt
Đây là cớ thứ hai Phan Kế Bính kể: chỗ đất có mối kiến hoặc bị nước lụt thì phải cải táng[2]. Ông không nói phải làm sau bao lâu. Ngày nay quy định vệ sinh đặt mốc tối thiểu 36 tháng kể từ khi mai táng[3], nên mộ chưa đủ thời gian mà hư hại thì gia đình cần hỏi chính quyền địa phương và ban quản lý nghĩa trang.
Khi đào đất thấy dấu hiệu được coi là tốt
Ba dấu hiệu được xem là tường thụy lúc cải táng, theo ghi chép của Phan Kế Bính, hễ gặp phải thì phải lấp lại tức khắc: thứ nhất, đào đất mà thấy rắn vàng thì coi là long xà khí vật; thứ hai, mở quan tài mà thấy dây tơ hồng quấn quýt thì cho là đất kết; thứ ba, hơi đất nơi ấy ấm áp, huyệt khô ráo không đọng nước, hoặc nước đọng thành giọt tựa sữa, đều là điềm lành.
Khi gia đình gặp chuyện không yên
Cớ thứ tư Phan Kế Bính kể: những nhà tin địa lý, hễ thấy trong nhà có kẻ phát cuồng loạn trí, hoặc người ốm đau cãi cọ, hoặc kẻ ngỗ nghịch gây kiện tụng rắc rối, thì quy cho đất mà cải táng. Đây là cách lý giải mang tính quan niệm dân gian, không phải kết luận y học hay khoa học.
Khi muốn cầu công danh phú quý
Cớ thứ năm Phan Kế Bính kể: những người muốn cầu công danh phú quý, nhờ thầy địa lý tìm chỗ cát địa mà cải táng, hoặc thấy nhà khác phát đạt thì đem mả nhà mình táng gần vào chỗ mả nhà kia để cầu được hưởng dư huệ. Đây là hiện tượng được ghi nhận trong thực tế nhưng không có cơ sở khoa học để khẳng định hiệu quả.
Quan điểm tôn giáo và nhà nghiên cứu về cải táng như thế nào?
Quan điểm Phật giáo
Theo quan điểm nhà Phật mà Đỗ Lan Hiền dẫn lại, con người gồm hai phần Thân và Tâm. Lúc chết, hệ thần kinh thôi vận hành, thần thức đã lìa khỏi xác thân. Bởi vậy, dù hỏa táng hay địa táng cũng chẳng tác động gì tới thân xác hay linh hồn người chết, vì tứ đại rốt cuộc cũng tan rã.
Quan điểm nhà nghiên cứu
Đỗ Lan Hiền nhận định rằng tục cải táng xưa không phải là một nghi thức mang tính bắt buộc và càng không có ý nghĩa quyết định hay chi phối số phận người sống. Theo tác giả, hiện nay xu hướng lo hậu sự cho người chết đang khôi phục nhiều hủ tục tốn kém, bao gồm phong trào tìm mua đất ở những vùng được coi là long huyệt để cải táng, làm dư luận xôn xao.
Các bước tiến hành cải táng theo ghi chép của Phan Kế Bính là gì?
Trình tự cải táng truyền thống được Phan Kế Bính ghi lại như sau: trước ngày cải táng, gia đình làm lễ cáo từ đường. Sang ngày táng, lại làm lễ khấn Thổ công nơi chôn mả mới. Đầu tiên khai mả, nhặt xương cốt xếp vào tiểu sành, rảy nước vang lên rồi che đậy kín mít, không để ánh nắng lọt vào. Nhà giàu sang thì dùng quan quách khâm liệm y như lúc hung táng. Sau đó đem cải táng sang đất khác. Nếu quan tài cũ đã mục nát thì bỏ đi; trường hợp vẫn còn dùng được thì mang về, có thể tận dụng làm cầu hoặc làm chuồng trâu, chuồng ngựa.
Theo Phan Kế Bính, trước khi hung táng người ta đắp mộ hình vuông, tới lúc cải táng thì đắp hình tròn. Nhà giàu sang thì xây lăng, nhà thường dân thì dựng mộ chí, chờ dịp tuần tiết tới thăm viếng.
Những điều cần lưu ý khi quyết định bốc mộ là gì?
Thứ nhất, xác định rõ lý do cải táng. Nếu chỉ vì tin vào địa lý mà không có dấu hiệu hư hại thực tế, việc cải táng có thể không cần thiết và gây tốn kém. Theo lời Phan Kế Bính, nếu thực lòng kính trọng thương xót hài cốt tiên nhân thì đừng nên di đi dịch lại, chỉ khi vạn bất đắc dĩ mới làm.
Thứ hai, tham khảo ý kiến gia đình và dòng họ. Tục cải táng thường gắn với quy ước của từng dòng họ, nên việc quyết định không chỉ là chuyện của một cá nhân.
Thứ ba, cân nhắc điều kiện thực tế. Đỗ Lan Hiền lưu ý rằng phong trào tìm mua đất cải táng ở vùng được coi là long huyệt đã làm xôn xao dư luận và góp phần làm tăng diện tích đất nghĩa địa, lấn sang cả đất canh tác.
Thứ tư, giữ tâm thế đúng. Việc chăm lo mộ phần là biểu hiện của đạo hiếu, nhưng không nên biến thành gánh nặng hay chạy theo những quan niệm thiếu cơ sở.
Tóm lại, bốc mộ cải táng có những điểm chính nào?
Bốc mộ cải táng là một tục lệ có lịch sử lâu đời trong văn hóa Việt Nam, gắn với đạo hiếu và tín ngưỡng thờ cúng tổ tiên. Thời điểm phổ biến là sau khi mãn tang ba năm, hoặc thêm một vài năm nữa, phong tục không đặt mốc bắt buộc, còn quy định vệ sinh hiện hành đòi tối thiểu 36 tháng. Các nhà nghiên cứu như Đỗ Lan Hiền nhấn mạnh rằng tục này xưa kia phần lớn xuất phát từ điều kiện kinh tế và tình trạng mộ phần, không phải là nghi thức quyết định số phận người sống. Ngày nay, việc cải táng nên được cân nhắc dựa trên tình trạng thực tế của mộ phần, điều kiện gia đình và tập quán dòng họ, tránh chạy theo những quan niệm thiếu căn cứ.
