Tới nội dung

Tri thức / Việt Nam

Nghi lễ vòng đời

Cúng ba ngày (tế ngu) tính từ ngày mất hay ngày an táng? Cách hiểu từ Việt Nam phong tục

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Cúng ba ngày (tế ngu) tính từ ngày mất hay ngày an táng? Cách hiểu từ Việt Nam phong tục

TL;DR: Theo Việt Nam phong tục của Phan Kế Bính, tế ngu tính từ ngày an táng: chôn xong về nhà tế ba lần, gọi là sơ ngu, tái ngu, tam ngu, nên cúng ba ngày (tam ngu) rơi vào ngày thứ ba tính cả hôm chôn. Các mốc khác như 49 ngày, 100 ngày, giỗ đầu thì đếm từ ngày mất. Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút xếp tế ngu vào lễ cổ, còn tuần thất và trăm ngày theo lễ nhà Phật.

Cúng ba ngày (tế ngu) tính từ ngày mất hay ngày an táng?

Tính từ ngày an táng. Phan Kế Bính chép trong Việt Nam phong tục: "An táng rồi trở về nhà lại tế, gọi là Ngu tế"[1]. Sách kể tiếp ba lần tế liền nhau là sơ ngu, tái ngu và tam ngu, nên lễ cúng ba ngày chính là lễ tam ngu, ngày thứ ba tính cả hôm chôn. Ví dụ an táng ngày 10 thì sơ ngu ngày 10, tái ngu ngày 11, tam ngu ngày 12. Tiện ích Tính ngày lễ vòng đời của Nhật Nguyệt cũng đếm theo cách này. Ở nhiều nơi Nam Bộ, ngày tam ngu còn có lễ mở cửa mả.

Tế ngu là gì trong tang lễ cổ?

Ngu nghĩa là yên. Phan Kế Bính giải thích người mất "xương thịt mới chôn dưới đất, hồn phách chưa được yên, cho nên tế ba lần để yên hồn phách cho người mất"[1]. Sách cũng ghi nhà phú quý mới làm đủ ngu tế, nhà thường thì trong ba ngày chỉ họ hàng thân thuộc đến phúng viếng; mỗi buổi chiều con cái mang cơi trầu ra mộ khóc, và tới hôm thứ ba thì sửa sang lại mộ[1].

Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút (bản dịch Nguyễn Hữu Tiến) xếp tế ngu vào nhóm lễ tế: "Cứ như lễ tang thì chỉ có lễ cúng tổ, lễ khiển điện mới làm lễ điện, còn như lễ tế ngu, tế phục, tế đại tiểu tường, đàm tất, thì làm lễ tế"[2].

Ở lễ tế ngu con cháu lạy mấy lạy?

Hai sách nói khác nhau. Phan Kế Bính ghi lúc ma còn để trong nhà thì chỉ lạy hai lạy, "Đến lúc hạ huyệt rồi thì mới lạy bốn lạy"[1]. Phạm Đình Hổ thì cho rằng lễ khiển điện, lời từ biệt lần cuối trước khi linh cữu đi, đã phải lạy bốn lạy, còn ở tế ngu vẫn lạy hai: "Lễ tế ngu, tuy làm sau khi đã chôn, nhưng bụng người hiếu tử vẫn còn bàng hoàng thương xót, chưa nỡ vội lấy cái lễ thờ quỉ thần mà thờ đấng thân, vậy nên lúc đọc văn tế, theo nghi tiết, cũng lạy hai lạy"[2]. Theo ông, chỉ từ lễ tốt khốc trở đi mới lạy bốn lạy như thờ quỷ thần[2].

Có phải cúng ba ngày là tuần thất không?

Không. Tuần thất đếm bảy ngày một tuần; Phan Kế Bính ghi bốn mươi chín ngày là tuần chung thất, một trăm ngày là tuần tốt khốc[1]. Phạm Đình Hổ coi các tuần ấy là lễ nhà Phật: "Gần đây, lại còn có tuần thất thất mà lễ tuần bốn chín ngày, lễ tuần trăm ngày, lễ cáo hè, lễ điện hè, lễ tống hè, lễ Trung nguyên đốt mã, những lễ tiết ấy đều là theo lễ nhà Phật, chứ không phải là lễ cổ nhân"[2]. Tế ngu là lễ cổ, gắn với việc chôn. Hai hệ lễ cùng có trong một đám tang nhưng không thay nhau.

Các mốc tang lễ tính từ ngày nào?

Bảng dưới xếp các mốc theo lời Phan Kế Bính[1]. Chỉ ba lần tế ngu lấy ngày an táng làm gốc; các mốc còn lại đếm từ ngày mất.

LễMốc tínhKhi nào
Thành phụcNgày mấtVài ba hôm sau khi mất, lúc việc lo liệu đã xong
Sơ ngu, tái ngu, tam nguNgày an tángHôm chôn, hôm sau, ngày thứ ba
Chung thấtNgày mất49 ngày
Tốt khốcNgày mất100 ngày
Tiểu tường (giỗ đầu)Ngày mấtĐược một năm
Đại tường (giỗ hết)Ngày mấtHai năm
Đàm tếĐại tườngSau đại tường hai tháng, chọn một ngày

Vì sao hay nhầm giữa ngày mất và ngày an táng?

Vì gần như mọi mốc khác đều đếm từ ngày mất, nên dễ tưởng tế ngu cũng vậy. Tế ngu thì gắn với việc chôn: lễ làm để yên hồn phách người vừa được chôn, nên chôn muộn thì tế ngu cũng muộn theo. Ví dụ mất ngày 5, an táng ngày 9 thì tam ngu là ngày 11, còn 49 ngày và 100 ngày vẫn đếm từ ngày 5. Với các mốc như 49 ngày, 100 ngày, sách chỉ ghi số ngày, không nói ngày mất có tính là ngày thứ nhất hay không, nên các nhà có thể lệch nhau một ngày.

Các sách xưa nói gì khác nhau?

Ngoài chuyện số lạy, Phạm Đình Hổ phê phán tục đương thời: cứ đến ngày thành phục lại "bày ra cỗ bàn tế lễ linh đình"[2]. Phan Kế Bính ghi lệ làng nặng nề quanh đám tang: có nơi hiếu chủ phải lo trả bữa cho dân thì dân mới cho chống gậy, có nơi hiếu chủ còn nợ miệng thì dù hết tang ba năm vẫn chưa được bỏ đồ hiếu phục, và từ đó sinh ra lệ ma sống, ma khô[1]. Về thời điểm của tế ngu thì hai sách không trái nhau: cả hai đều nói tế ngu làm sau khi đã chôn.

Gợi ý của Nhật Nguyệt

Gợi ý của Nhật Nguyệt: ghi lại cả ngày mất lẫn ngày an táng, theo âm lịch và dương lịch, ngay trong những ngày lo tang. Tam ngu cần ngày an táng, còn 49 ngày, 100 ngày và giỗ đầu cần ngày mất. Nơi nào có tục riêng thì hỏi người chủ lễ ở địa phương.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Lễ tế ngu có phải là cúng ba ngày không?

Gần như là một. Phan Kế Bính chép tế ngu gồm ba lần tế trong ba ngày sau khi chôn: sơ ngu, tái ngu, tam ngu. Cái nhiều nhà gọi là cúng ba ngày chính là lễ tam ngu, ngày thứ ba tính cả hôm an táng; ở nhiều nơi Nam Bộ ngày ấy còn có lễ mở cửa mả.

Nếu chôn cất muộn hơn ba ngày thì tính ngày cúng thế nào?

Vẫn đếm từ hôm chôn. Ví dụ mất ngày 5, an táng ngày 9 thì sơ ngu ngày 9, tái ngu ngày 10, tam ngu ngày 11. Còn 49 ngày, 100 ngày và giỗ đầu vẫn đếm từ ngày 5, ngày mất.

Tuần thất bảy ngày và tế ngu có liên quan gì đến nhau?

Phạm Đình Hổ trong Vũ trung tùy bút phân biệt rõ: tuần thất, tuần trăm ngày là lễ theo nhà Phật, không phải lễ cổ. Tế ngu là lễ cổ, làm sau khi chôn. Hai hệ lễ này có thể cùng được thực hiện trong tang ma, nhưng không cùng nguồn gốc và không thay thế nhau.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefgPhan Kế Bính (1915). Việt Nam phong tục. Đăng trên Đông Dương tạp chí 1913-1914, in thành sách 1915; bản số hoá: Nhà sách Khai Trí, Sài Gòn, in lại 1973, Phần Gia tộc, mục Tang ma (bản số hoá trang 29 tới 35); phần Hương đảng, mục Việc hiếu (trang 184)An táng rồi trở về nhà lại tế, gọi là Ngu tế.
  2. ↑ abcdePhạm Đình Hổ và Nguyễn Hữu Tiến (dịch) (không rõ năm). Vũ trung tùy bút (bản dịch Nguyễn Hữu Tiến), trang 13, 15Cứ như lễ tang thì chỉ có lễ cúng tổ, lễ khiển điện mới làm lễ điện, còn như lễ tế ngu, tế phục, tế đại tiểu tường, đàm tất, thì làm lễ tế.
#CúngBaNgày#TếNgu#TangLễ#ViệtNamPhongTục#PhanKếBính#NghiLễVòngĐời