
TL;DR: Giỗ hết đại tường là lễ giỗ mãn hai năm để tang, đánh dấu việc trừ bỏ tang phục nặng. Mâm cúng truyền thống thường có xôi, gà luộc, bánh chưng hoặc bánh giầy, trầu cau, hương đèn, vàng mã, cơm úp quả trứng luộc. Sau đại tường khoảng hai tháng, gia đình chọn ngày làm lễ đàm tế để bỏ hết tang phục, trở về y phục thường.
Giỗ hết đại tường là gì và khác gì với giỗ đầu?
Giỗ hết đại tường là lễ giỗ mãn hai năm để tang, đánh dấu chặng cuối của tang kỳ theo lễ cổ. Theo cách ghi của Phan Kế Bính trong Việt Nam phong tục, sau khi an táng, tang gia lần lượt trải qua các tuần: tuần chung thất (bốn mươi chín ngày), tuần tốt khốc (một trăm ngày), rồi lễ tiểu tường (giỗ đầu, một năm) và lễ đại tường (giỗ hết, hai năm). Giỗ đầu mới trừ bỏ phần hung phục nặng như gai gậy, mũ, nhưng tang gia vẫn còn mặc đồ tang chế trong thời gian còn lại. Đến đại tường, lễ giỗ được làm long trọng hơn vì đây là mốc kết thúc chính thức của ba năm tang chế theo lễ cổ.
Phan Kế Bính đã chép rõ rằng giỗ hết sau hai năm được gọi là đại tường; tiếp đó hai tháng, người ta chọn một ngày để cử hành lễ trừ phục mang tên đàm tế, lúc ấy tang phục mới được cất bỏ hoàn toàn và thay bằng các loại y phục thường ngày. Như vậy, đại tường và đàm tế là hai mốc khác nhau: đại tường là lễ giỗ, đàm tế mới là lễ xả tang thực sự.
Vì sao phải qua đại tường rồi mới xả tang?
Trong quan niệm lễ cổ, thời gian để tang ba năm (thực tế tính hai năm theo lịch âm) là khoảng thời gian con cái thể hiện lòng thương nhớ. Việc trừ phục không thể làm ngay khi hết hai năm, mà phải chờ thêm hai tháng để phân biệt rạch ròi giữa lễ giỗ và lễ trừ phục. Sách Vũ trung tùy bút của Phạm Đình Hổ (bản dịch Nguyễn Hữu Tiến) có nhắc đến các lễ tế ngu, tế phục, tế đại tiểu tường, đàm tất, phân biệt rõ giữa lễ tế và lễ cúng thường ngày[1].
Mâm cúng giỗ hết đại tường gồm những lễ vật gì?
Mâm cúng giỗ hết đại tường không có một công thức cố định cho mọi nhà. Mức độ phong kiệm tùy theo gia cảnh và tục lệ từng vùng. Tuy vậy, từ ghi chép của Phan Kế Bính và các tục lệ còn lưu truyền, có thể hình dung những lễ vật phổ biến sau.
Lễ vật chính trên mâm cúng
| Lễ vật | Ý nghĩa và cách bày |
|---|---|
| Xôi, gà luộc | Mâm chính dâng gia tiên, thường đặt ở giữa bàn thờ |
| Bánh chưng hoặc bánh giầy | Lễ vật truyền thống, có nhà biếu họ mạc và làng xóm |
| Cơm úp và trứng luộc | Phan Kế Bính ghi trong ngày giỗ, dù lớn nhỏ thế nào cũng phải có một bát cơm úp lên một quả trứng luộc làm đầu |
| Trầu cau, rượu, trà | Dâng cùng hương đèn, thể hiện lòng thành |
| Vàng mã | Đốt trong khoảng tiểu tường, đại tường; kỳ mã sau mới thực là mã dâng cho người mất dùng |
| Hương đèn, hoa quả | Bày trên bàn thờ gia tiên trong suốt lễ |
Về đồ mã, Phan Kế Bính cho biết đồ mã thường làm những đồ thường dùng của người như chăn màn, quần áo, hòm xiểng, mâm bát, và có nhà sắm đồ mã tốn đến năm bảy chục, một vài trăm bạc. Có nhà đốt mã ngay tại nhà, cũng có nhà đốt mã ở chùa, lại có người tổ chức làm chay cúng tam tử phủ kéo dài năm bảy ngày, ông cũng ghi nhận điều này.
Có nhất thiết phải làm cỗ lớn không?
Theo Phan Kế Bính ghi lại, tang gia trải qua nhiều tuần tiết từ lúc khâm liệm đến khi đàm tất, nào là ngày thành phục, ngày phát dẫn, ba ngày tế ngu, rồi đại tường, tiểu tường, giỗ đầu, giỗ hết; nhà giàu tổ chức tế bái linh đình, nhà nghèo chỉ cúng cấp đơn giản; mỗi tuần tiết đều có mời họ mạc, làng nước, khách khứa, kèm bánh giầy bánh chưng để biếu. Như vậy, mức độ cỗ bàn phụ thuộc vào điều kiện gia đình, không có quy định bắt buộc phải làm lớn.
Trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo năm 2013, bài nghiên cứu của Đỗ Lan Hiền có dẫn lời dạy trong chương Tế thống của Kinh Lễ rằng: con cái khi cha mẹ qua đời phải đảm đương tang ma tế lễ, song nên giản tiện, tránh bày vẽ; yếu tố cốt lõi nằm ở tấm lòng thành kính chứ không phải ở lễ vật cúng tế. Bài báo cũng nêu thực trạng nhiều gia đình vì lo lắng việc hậu sự liên quan đến vận mệnh tương lai, vì nghe theo thầy, vì lệ làng, vì nợ miệng mà buộc phải thực hiện những nghi lễ rườm rà tốn kém.
Cách bày mâm cúng và trình tự lễ đại tường ra sao?
Cách bày mâm cúng giỗ hết đại tường về cơ bản giống các giỗ khác, nhưng không khí trang nghiêm hơn vì đây là lễ mãn tang. Trình tự thường được tiến hành theo các bước sau.
- Trước ngày giỗ, gia đình sửa soạn bàn thờ, lau dọn bát hương, bài vị, chuẩn bị lễ vật.
- Chiều hôm trước cúng tiên thường, hôm sau mới là ngày chính kỵ. Phan Kế Bính ghi nhận tục này trong mục Kỵ nhật: chiều hôm trước cúng tiên thường, hôm sau mới là ngày chính kỵ.
- Sáng ngày chính, gia chủ thắp hương, khấn gia tiên và người quá cố, dâng lễ vật.
- Sau lễ cúng, con cháu sum họp ăn uống. Phan Kế Bính viết rằng những giỗ xa thì người ta sửa soạn một con gà, một ván xôi hoặc dăm mâm cỗ, trước tiên cúng gia tiên, kế đó con cháu quây quần ăn uống cùng nhau.
- Về ngày giỗ cha mẹ thì tục thường làm phong hơn.
Lễ đàm tế xả tang được làm thế nào?
Sau đại tường hai tháng, gia đình chọn một ngày làm lễ trừ phục gọi là đàm tế. Lúc bấy giờ, theo Phan Kế Bính, toàn bộ đồ tang phục mới được bỏ hết để chuyển sang mặc các sắc phục thường. Trình tự thường thấy là gia chủ và tang quyến mặc tang phục làm lễ trước bàn thờ, sau đó thay y phục thường, đốt vàng mã, kết thúc tang kỳ. Từ đây, gia đình trở lại sinh hoạt bình thường, không còn kiêng khem như trong thời gian để tang.
Trong Vũ trung tùy bút, Phạm Đình Hổ có bàn về lễ hai lạy và bốn lạy và đưa ra quan điểm: tang lễ thời cổ, kể từ khi cha mẹ vừa mất cho tới lúc đưa đám đi chôn, đều áp dụng hai lạy và không dùng văn tế; hiểu theo cách khác, người ta giữ nếp nhà con thờ cha mẹ, lấy nghi thức thờ người đang sống để đối đãi, bởi chưa nỡ xem đấng thân yêu là người đã khuất[1]. Ông cũng phê phán tục lệ thành phục bày cỗ bàn tế lễ linh đình, biến thành cuộc khánh hội[1].
Vì sao có sự khác biệt giữa các vùng và các phái?
Có sự khác biệt đáng kể giữa các vùng miền và giữa các cách hiểu lễ cổ với lễ Phật giáo. Phan Kế Bính cho biết tục đốt mã thường diễn ra vào tuần trung nguyên tháng bảy, song cũng không ít nhà đốt vào ngày giỗ đầu và ngày giỗ hết. Theo Trần Đình Hằng, trong bài nghiên cứu năm 2015 về nguồn cội vàng mã đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo, bát hương phải luôn được cháy sáng, điều này cần được hiểu theo hai khía cạnh: mãi có người thắp hương và mâm cúng kỵ giỗ đầy đủ[2].
Phạm Đình Hổ phân biệt rõ lễ cổ và lễ Phật giáo. Theo quan điểm của ông, những lễ như tuần thất thất (bốn chín ngày), tuần trăm ngày, lễ cáo hè, lễ điện hè, lễ tống hè, lễ Trung nguyên đốt mã đều bắt nguồn từ lễ nhà Phật chứ không phải lễ cổ nhân[1]. Thuyết Phật cho rằng người chết cứ bảy ngày lại một lần bị duyệt án ở tòa án vua Diêm Vương[1].
Các phái không thống nhất ở điểm nào?
Các sách không thống nhất về thời điểm đốt mã và mức độ cỗ bàn. Theo Phan Kế Bính, việc đốt mã có nhà thực hiện tại gia, có nhà thực hiện tại chùa, và có người tổ chức làm chay cúng tam tử phủ trong năm bảy ngày. Theo quan niệm dân gian, Phạm Đình Hổ xem lễ hai lạy là hung lễ, còn căn cứ vào hội điển năm Chính Hòa thì triều lễ cũng chỉ có hai lạy[1]. Điều này cho thấy ngay trong giới trí thức xưa cũng có nhiều cách hiểu khác nhau, và bài viết này theo cách ghi chép của Phan Kế Bính và Phạm Đình Hổ làm nguồn tham chiếu chính.
Gợi ý của Nhật Nguyệt: làm giỗ hết đại tường thế nào cho phải đạo?
Gợi ý của Nhật Nguyệt: không nên biến giỗ hết đại tường thành cuộc thi cỗ bàn. Điều cốt lõi là lòng thành kính với người đã khuất và sự sum họp của con cháu. Nếu gia cảnh eo hẹp, một mâm cơm úp quả trứng luộc, nén hương, ngọn đèn cũng đủ để tưởng nhớ. Điều nên tránh là vay mượn để làm cỗ lớn, hoặc tin rằng mâm cao cỗ đầy mới được phù hộ. Theo bài nghiên cứu năm 2013 của Đỗ Lan Hiền, nếu một người đối xử tệ bạc với cha mẹ lúc họ còn sống, nhưng khi họ qua đời lại bày biện mâm cao cỗ đầy, xây dựng mồ mả, chỉ nhằm lo cho vận mệnh, số phận tương lai của bản thân và để che mắt thế gian, thì hành động đó không phải là hiếu, mà là bất hiếu, bất nhân.
Về thời điểm xả tang, nếu gia đình theo lễ cổ thì làm đàm tế sau đại tường hai tháng. Nếu theo tục địa phương có khác biệt, nên hỏi ý kiến người lớn tuổi trong họ để thống nhất, tránh gây tranh cãi trong gia đình.
Những hiểu lầm thường gặp về giỗ hết đại tường
Giỗ hết có phải là giỗ đầu cộng thêm một năm?
Không hẳn. Giỗ đầu (tiểu tường) và giỗ hết (đại tường) là hai lễ khác nhau về ý nghĩa. Tiểu tường đánh dấu việc trừ bỏ phần hung phục nặng, nhưng tang gia vẫn còn mặc đồ tang chế. Đại tường mới là mốc kết thúc hai năm để tang, và sau đó hai tháng mới làm đàm tế để bỏ hết tang phục.
Có phải cứ làm cỗ lớn là có hiếu?
Không. Theo Đỗ Lan Hiền (2013), trong chương Tế thống của Kinh Lễ, Khổng Tử được dẫn lời rằng tấm lòng thành kính mới là điều cốt yếu, chứ không phải nhờ lễ vật cúng tế mà nên. Bài báo cũng phê phán thực trạng nhiều gia đình vì lo lắng vận mệnh tương lai mà thực hiện những nghi lễ rườm rà tốn kém, thậm chí có nhà phải bán cả vườn ruộng để cúng vào cái mồm cái bụng những kẻ hạch ăn.
Xả tang xong có được làm đám cưới, xây nhà không?
Theo lễ cổ, sau đàm tế, gia đình trở về sinh hoạt bình thường, không còn kiêng khem như trong thời gian để tang. Tuy nhiên, một số vùng vẫn giữ tục kiêng cữ thêm một thời gian. Đây là quan niệm dân gian, không có quy định bắt buộc trong lễ cổ.
