
TL;DR: Một cung trên lá số Tử Vi chịu ảnh hưởng trước hết từ tam phương tứ chính: chính cung, hai cung tam hợp và cung xung chiếu. Ngoài ra còn có cung nhị hợp, hai cung giáp biên và các vòng sao như Thái Tuế, Lộc Tồn, Tràng Sinh. Bài dựa vào bốn sách Tử Vi Việt Nam; riêng nhị hợp thì Tử Vi nghiệm lý toàn thư của Thiên Lương coi trọng, còn Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc cho là không đáng kể, nên bài ghi rõ từng sách thay vì chọn một bên.
Tam phương tứ chính là gì và gồm những cung nào?
Bài này trình bày theo các sách Tử Vi Việt Nam: Tử Vi đẩu số tân biên (Vân Đằng Thái Thứ Lang), Tử Vi nghiệm lý toàn thư (Thiên Lương), Tử Vi tổng hợp (Nguyễn Phát Lộc) và Tử Vi áo bí biện chứng học (Việt Viêm Tử). Tam phương tứ chính là bốn cung tạo thành thế liên kết cơ bản trên lá số: chính cung, hai cung tam hợp và cung xung chiếu. Ví dụ Mệnh an tại Ngọ thì chính cung là Ngọ, hai cung tam hợp là Dần và Tuất, cung xung chiếu là Tý. Tử Vi đẩu số tân biên dặn: "Xem một cung, phải xem cả cung chiếu của nó", tức hai cung tam hợp chiếu, một cung xung chiếu và một cung nhị hợp[1]. Thiên Lương thì viết lý số Tử Vi có "3 phương thức chính" là tam hợp, nhị hợp và xung chiếu, trong đó tam hợp "gồm có chính và chiếu": Mệnh an ở Ngọ thì Ngọ là chính, Dần và Tuất là chiếu[2].
Nguyên lý của tam hợp dựa trên vòng Trường Sinh và Địa Chi: Dần Ngọ Tuất là tam hợp Hỏa, Thân Tý Thìn là tam hợp Thủy, Tỵ Dậu Sửu là tam hợp Kim, Hợi Mão Mùi là tam hợp Mộc. Ba cung trong một tam hợp đứng ở ba vị trí Sinh, Chính, Mộ (như Dần là Sinh, Ngọ là Chính, Tuất là Mộ). Tử Vi nghiệm lý mô tả tam hợp là "một thế liên minh ba cung có thể đứng chân vạc" cùng nhau tranh đấu với đối cục là cung xung chiếu[2].
Cung xung chiếu là cung đối diện qua tâm lá số, cách chính cung đúng sáu cung. Sáu cặp xung chiếu cố định là Tý Ngọ, Sửu Mùi, Dần Thân, Mão Dậu, Thìn Tuất, Tỵ Hợi. Theo Tử Vi nghiệm lý, quan hệ xung chiếu là quan hệ tương khắc ngũ hành: "xung là thế khắc", không bao giờ có sinh, chỉ có khắc xuất hoặc khắc nhập[2].
| Cặp xung chiếu | Hành tam hợp của cung trước | Hành tam hợp của cung sau | Quan hệ |
|---|---|---|---|
| Tý, Ngọ | Thủy | Hỏa | Thủy khắc Hỏa |
| Sửu, Mùi | Kim | Mộc | Kim khắc Mộc |
| Dần, Thân | Hỏa | Thủy | Thủy khắc Hỏa |
| Mão, Dậu | Mộc | Kim | Kim khắc Mộc |
| Thìn, Tuất | Thủy | Hỏa | Thủy khắc Hỏa |
| Tỵ, Hợi | Kim | Mộc | Kim khắc Mộc |
Bảng trên dùng hành của tam hợp chứa mỗi cung, đúng cách Thiên Lương tính: hai cung xung nhau luôn thuộc hai tam hợp khắc nhau, không có cặp tương sinh. Theo ông, chính cung khắc được cung xung thì thu được cái hay của cung xung, còn chính cung bị cung xung khắc thì không hưởng được gì từ cung ấy[2].
Vì sao một cung không thể đứng riêng lẻ?
Các sách đều không luận một cung riêng rẽ. Tử Vi đẩu số tân biên xếp việc định hướng chiếu thành một bước ngay sau khi an sao[1]. Thiên Lương viết rằng chỉ một tam hợp thì chưa đủ để nhận rõ sự chuyển dịch trên địa bàn, khuôn phép còn có nhị hợp và xung chiếu[2].
Tử Vi áo bí biện chứng học của Việt Viêm Tử, khi luận cung Mệnh vô chính diệu có hung tinh nhập miếu, cũng lấy tam phương làm chuẩn: "được Khoa Quyền Lộc tam phương củng chiếu, hung tinh miếu vị chấn ngự tam hợp là thượng cách"[4]. Cách xếp thượng cách hay hạ cách ở đây dựa vào các sao từ tam phương chiếu về, không chỉ vào sao tọa thủ.
Với cung vô chính diệu, Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc nhận xét rằng khi khoa Tử Vi bảo "phải dùng chính tinh xung chiếu để đoán" thay vì chính tinh tam chiếu, tức là đã coi "thế xung chiếu mạnh hơn, quyết định hơn" thế tam chiếu[3]. Ông cũng chỉ ra một chỗ mập mờ: khoa Tử Vi không ấn định chính tinh xung chiếu mạnh yếu tới đâu khi chiếu vào cung vô chính diệu, khiến việc giải đoán "rất bấp bênh, thiếu chính xác"[3].
Cung xung chiếu mạnh hơn hay yếu hơn cung tọa thủ?
Về chính tinh xung chiếu so với chính tinh tọa thủ, Tử Vi tổng hợp ghi: "Khoa Tử-Vi coi xung chiếu yếu hơn tọa thủ"[3]. Câu này nằm trong đoạn bàn cung vô chính diệu: theo sách, cung ấy chỉ hưởng một phần cái hay, cái dở của chính tinh xung chiếu.
Tử Vi nghiệm lý toàn thư có một chương mang tên câu truyền miệng "chính không bằng chiếu, chiếu không bằng giáp"[2]. Thiên Lương không coi câu ấy là bảng xếp hạng chung mà đem ra phân tích. Theo ông, "chính không bằng chiếu" đúng với bộ Nhật Nguyệt: Thái Dương ở Ngọ, Thái Âm ở Thân cùng chiếu về cung Mệnh vô chính diệu ở Dần[2].
Còn "chiếu không bằng giáp", ông viết là "cũng chỉ có 2 trường hợp", đều là giáp Nhật Nguyệt: Thiên Phủ ở Mùi có Thái Dương ở Ngọ, Thái Âm ở Thân đứng hai bên, và Tham Vũ ở Sửu có Cự Nhật ở Dần, Đồng Âm ở Tý đứng hai bên[2]. Về giáp nói chung, ông viết: "Giáp mà có ảnh hưởng mạnh là khi Mệnh đứng được thuận lý"[2].
Nhị hợp có thật sự quan trọng không?
Nhị hợp là quan hệ giữa hai cung có Địa Chi hợp nhau theo lục hợp: Tý Sửu, Dần Hợi, Mão Tuất, Thìn Dậu, Tỵ Thân, Ngọ Mùi. Tử Vi nghiệm lý toàn thư dành một chương nhan đề "Năng lực quan trọng của nhị hợp", trong đó Thiên Lương viết rằng nhị hợp bổ khuyết cho tam hợp ở phần bản lĩnh tiềm tàng trong nội tâm, thứ mà tam hợp không phơi bày nổi[2].
Theo Tử Vi nghiệm lý, tình trạng nhị hợp "luôn luôn đối với chính cung chỉ có sinh không có khắc", tức là chỉ có sinh nhập hoặc sinh xuất[2]. Ví dụ cung Thìn (tam hợp Thủy) nhị hợp với Dậu (tam hợp Kim), được Dậu sinh nhập cho Thìn thì "mọi sự may rủi bột phát". Ngược lại, xem cung Dậu nhị hợp với Thìn thì Dậu phải sinh xuất cho Thìn, "mọi sự may rủi phải sút kém, không trông cậy được gì ở nhị hợp"[2].
Nguyễn Phát Lộc trong Tử Vi tổng hợp lại có quan điểm ngược lại: "Thế nhị hợp thật sự không có nghĩa gì bao nhiêu. Nếu có, ý nghĩa đó cũng không có trong cách quyết định"[3]. Ông lập luận rằng không thể khẳng định cung Mệnh bị chi phối mạnh bởi cung Tật chỉ vì nhị hợp với Tật, và "ý nghĩa của nhị hợp không mấy dựa vào tên của 2 cung nhị hợp", mà đa số dựa vào các sao ở hai cung đó[3].
Đây là điểm bất đồng rõ rệt giữa hai sách. Tử Vi nghiệm lý coi nhị hợp là một trong ba phương thức chính và có năng lực quan trọng. Tử Vi tổng hợp coi nhị hợp gần như không có ý nghĩa quyết định, chỉ nên giải đoán dựa trên các sao tại hai cung. Người đọc cần biết cả hai quan điểm để tự đối chiếu với trường phái mình theo.
Hai cung giáp biên ảnh hưởng thế nào?
Giáp là hai cung nằm sát hai bên của một cung, ví dụ Mệnh an tại Ngọ thì hai cung giáp là Tỵ và Mùi. Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc kết luận rằng ảnh hưởng của giáp tùy từng thế: có thế cho thấy ảnh hưởng trực tiếp và mạnh của cả hai cung giáp, có thế chỉ dính tới một cung, có thế chỉ đúng theo một hướng suy luận[3].
Thiên Lương cũng dè dặt với giáp. Ông viết "Giáp chỉ là xóm giềng", và khi xét cách giáp Tử Phủ thì gọi đó là "lý tưởng của cuộc bất ổn tang thương": cách này chỉ có khi Mệnh ở Dần hay Thân, mà khi ấy cung Mệnh hoặc có Thiên Cơ, Thái Âm, hoặc vô chính diệu[2]. Cụ thể, Tử Vi ở Sửu và Thiên Phủ ở Mão thì cung Dần không có chính tinh; Tử Vi ở Mão và Thiên Phủ ở Sửu thì cung Dần có Thiên Cơ và Thái Âm.
Các vòng sao Thái Tuế, Lộc Tồn, Tràng Sinh có phải là "cung" ảnh hưởng không?
Ba vòng Thái Tuế, Lộc Tồn và Tràng Sinh không phải là cung theo nghĩa địa chi, nhưng chúng chạy qua các cung và tạo ảnh hưởng lên cung mà chúng đi qua. Tử Vi nghiệm lý định nghĩa: "Thái tuế: hạnh kiểm tư cách. Lộc Tồn: Hoàng lương một kiếp. Tràng sinh: Đường dài xử thế"[2]. Sách cũng khẳng định: "căn bản ưu tiên của Tử Vi là vòng Thái Tuế"[2].
Như vậy, khi luận một cung, ngoài tam phương tứ chính, nhị hợp và giáp, người xem còn phải xét cung đó có nằm trong vòng Thái Tuế, Lộc Tồn hay Tràng Sinh hay không. Ví dụ cung Mệnh nằm tại vị trí Thái Tuế thì theo Tử Vi nghiệm lý, dù ở trong tam hợp Dục Suy Tuyệt của vòng Tràng Sinh, người đó vẫn "không thể không tỉnh ngộ", giữ được "giấy rách phải giữ lấy lề"[2].
Tóm tắt thứ tự ưu tiên khi luận một cung
Gom các ý trên, khi luận một cung cần xem những thứ sau (thứ tự là cách xếp của bài, các sách không có một bảng xếp hạng chung):
- Chính cung: chính tinh tọa thủ, phụ tinh, tứ hóa tại chỗ.
- Tam hợp: hai cung tam hợp chiếu về, gồm chính tinh và phụ tinh.
- Xung chiếu: cung đối diện; Tử Vi tổng hợp ghi khoa Tử Vi dùng chính tinh xung chiếu để đoán cung vô chính diệu.
- Nhị hợp: cung lục hợp; Thiên Lương coi trọng, Nguyễn Phát Lộc cho là không đáng kể.
- Giáp: hai cung sát hai bên; cả hai sách đều cho là tùy từng thế, Thiên Lương ví như xóm giềng.
- Ba vòng Thái Tuế, Lộc Tồn, Tràng Sinh: theo Thiên Lương, ứng với hạnh kiểm tư cách, lộc một kiếp và đường dài xử thế.
Tử Vi áo bí biện chứng học cũng phân cách cục của cung Mệnh vô chính diệu theo các sao ở tam phương: được Khoa Quyền Lộc củng chiếu thì sách xếp là thượng cách, còn cát tinh hung tinh lẫn lộn ở tam phương xung hợp mà cung Mệnh không gặp Triệt thì sách xếp vào cách bôn ba[4].
Gợi ý của Nhật Nguyệt
Gợi ý của Nhật Nguyệt: muốn biết một cung chịu ảnh hưởng của những cung nào, hãy lập lá số rồi đánh dấu bốn cung tam phương tứ chính (cung đang xét, hai cung cách nó bốn cung về hai phía, cung đối diện), sau đó tới cung nhị hợp và hai cung giáp. Khi đọc lời luận của một sách, nên xem sách ấy nói gì về nhị hợp và giáp, vì Tử Vi nghiệm lý toàn thư và Tử Vi tổng hợp nói khác nhau ở hai chỗ này.
Tử Vi là một hệ thống diễn giải, không phải khoa học dự báo. Chính Thiên Lương cũng viết: "Toán số mạng chỉ đề ra khép mở không nhất quyết minh định vì nhiều nỗi e dè không khỏi nhiều khi nhận lầm lạc hướng"[2].