Tri thức / Việt Nam

Tín ngưỡng dân gian

Tục cúng đất ở Huế: cúng tháng nào, lễ vật ba bàn gồm gì và ý nghĩa tạ ơn thổ thần

Văn hoá và tín ngưỡng Ghi chép phong tục.

Tục cúng đất ở Huế và xứ Quảng: cúng tháng nào, lễ vật ba bàn gồm gì và ý nghĩa tạ ơn thổ thần

TL;DR: Tục cúng đất ở Huế là nghi lễ dâng cúng thần Đất, mỗi năm hai lần vào một ngày tốt trong tháng Hai và tháng Tám âm lịch; ở các tỉnh Nam Trung Bộ lễ tương tự làm vào tháng Ba. Báo Huế Ngày Nay viết vùng ngũ Quảng xưa đều có tục này, nay nhiều nơi đã mai một, Huế còn giữ đều. Lễ đầy đủ ở Huế có ba bàn Thượng, Trung, Hạ với gà luộc, xôi, cua, trứng, thịt luộc, rau khoai luộc, chén nước ruốc, xâu cá nướng. Ý nghĩa chính là tạ ơn thổ thần và các vị chủ đất cũ, cầu mong âm siêu dương thái, cuộc sống an lành.

Tục cúng đất ở Huế là gì?

Tục cúng đất ở Huế là nghi lễ dâng cúng cho các vị thần Đất và các vị thần phối thuộc, còn có tên là lễ Tạ thổ kỳ yên[3]. Ở Huế, lễ thường diễn ra vào một ngày tốt trong tháng Hai và tháng Tám âm lịch, mỗi năm hai lần[3]. Ở các tỉnh Nam Trung Bộ, nghi lễ tương tự cũng diễn ra vào tháng Ba âm lịch với những tên gọi khác nhau[1].

Theo cách hiểu phổ biến của người dân miền Trung, cúng đất là dịp để tạ ơn thổ thần đã trông coi đất đai, đồng thời tưởng nhớ những người từng sinh sống trên vùng đất này trước khi người Việt vào khai phá[1][3].

Vì sao lại có tục cúng đất ở miền Trung?

Năm 1306, vua Chăm Pa là Chế Mân (Jaya Simhavarman III) lấy hai châu Ô, Lý làm sính lễ cưới Công chúa Huyền Trân, và người Việt theo đó vào tiếp nhận vùng đất mới[1][3].

Cư dân ở vùng đất mới vốn là cư dân của Vương quốc Chămpa, cho nên theo suy nghĩ của người Đại Việt lúc bấy giờ, vùng đất này còn xa lạ về thổ nhưỡng, khí hậu và địa hình. Khi vào đây lập nghiệp, họ mang trong mình sự tôn kính đối với người dân bản địa và các vị thần linh ở đây, từ đó hình thành lệ cúng Đất như một cách mong thần linh và những linh hồn người bản địa từng cư ngụ phù hộ độ trì, chấp thuận cho sự có mặt làm ăn sinh sống của cư dân mới[3].

Cúng đất vào tháng Hai, tháng Tám hay tháng Ba?

Cúng đất ở Huế thường diễn ra hai lần trong năm vào một ngày tốt trong tháng Hai và tháng Tám âm lịch[3]. Theo báo Huế Ngày Nay, không ít người quan niệm tháng Hai là dịp cầu xin cho mở đầu một năm thuận lợi, còn tháng Tám là cúng để tạ ơn thổ thần đất đai đã trợ giúp phù trì[2].

Ở các tỉnh Nam Trung Bộ, nghi lễ này cũng diễn ra vào tháng Ba âm lịch với các tên gọi như tạ thổ kỳ an, tá thổ, mãi thổ, khao thổ[1].

Theo quan sát của tác giả bài trên báo Huế Ngày Nay năm 2016, lễ cúng đất của người Huế đã giản lược rất nhiều so với trước. Có nhà theo lễ nghi truyền thống thì thiết đủ ba bàn, hương đèn vật phẩm tươm tất. Có nhà giảm xuống thiết hai bàn Thượng và Hạ. Lại có nhà tùy gia phương tiện soạn chung một bàn, lễ phẩm có gì cúng nấy, cốt yếu là lòng thành hướng đến ơn trên[2].

Lễ vật ba bàn trong tục cúng đất gồm những gì?

Một lễ cúng đất đầy đủ nhất có đến ba bàn: bàn thượng, bàn trung và bàn hạ. Mỗi bàn đều có hương đèn, hoa quả, cau trầu rượu, giấy vàng mã[3].

  • Bàn thượng: đặt bộ áo thổ thần, vật thực gồm con gà, bát xôi, xung quanh là xôi chè[3]. Theo một nguồn khác, bàn thượng cúng xôi, gà trống luộc nguyên con với đủ lòng, huyết[2].
  • Bàn trung: đặt hai bộ áo bà, năm bộ áo ngũ phương, lễ vật gồm miếng thịt heo luộc, đĩa xôi, ba đĩa cua trứng luộc chín, có miếng thịt luộc và vài hạt muối đặt lên trên, cùng mâm cỗ cúng cơm. Đặc biệt có đĩa rau khoai luộc, chén nước ruốc và xâu cá, thịt nướng[3]. Theo một nguồn khác, bàn trung cũng gà nguyên con nhưng là gà mái, rồi cua, trứng, thịt luộc[2].
  • Bàn hạ: đặt áo, cháo, gạo, muối, khoai, sắn, đậu lạc[3]. Theo một nguồn khác, bàn hạ thì cơm cộ, xôi chè, khoai sắn, hạt nổ, một xâu cá vụn nướng, mắm nêm, rau luộc[2].

Ba bàn đặt trước nhà, gia chủ đứng từ trong nhà lạy ra[3]. Danh sách dâng cúng và khấn vái gồm đất nhà cửa của gia chủ cho đến thần suối, thần giếng và tổ tiên làng xã, gia tộc. Đặc biệt là dâng cúng những cô hồn người Chăm từng cư trú, những oan hồn không ai thờ tự[3].

Những món ăn không thể thiếu và ý nghĩa của chúng

Trong nghi lễ này, ngoài những thức cúng hiện diện trong hầu hết các nghi lễ của người Việt như hương, hoa, đăng, đèn, quả, phẩm, thì rau khoai luộc, chén nước ruốc (hoặc nước mắm nêm), gắp cá tôm nướng, tam sên (ba con cua, ba miếng thịt ba chỉ, ba quả trứng, tất cả đều luộc chín, bày trên ba đĩa) là những món không thể thiếu[1].

Những món ăn này được dân gian giải thích là thức ăn dành cho "ma mọi" hay "mọi rừng", "ma núi"[1]. Theo ghi nhận của Nguyễn Đình Tư trong sách Non nước Ninh Thuận, ở Ninh Thuận, thức ăn còn được đặt trên những chiếc đĩa làm bằng bẹ chuối[1]. Chi tiết dùng lá chuối làm đồ đựng thức ăn cũng được Lê Quang Nghiêm miêu tả trong lễ cúng Dàng do các thầy cúng người Chăm tổ chức ở vùng Khánh Hòa[1].

Sự hiện diện của món ăn và cả cách bày biện món ăn phi Việt trong một nghi lễ của người Việt được cho là thể hiện sự hiểu biết và tôn trọng văn hóa của chủ lễ đối với những dân tộc tiền trú, cho dù đó là những sắc dân mà đối với họ, nói như học giả L. Cadière, "chỉ có một ký ức mơ hồ (…). Phần nhiều họ đã quên tên"[1].

Nghi thức tống bè và xem giò gà sau lễ

Sau khi lễ tất, gia chủ sẽ đem mỗi thứ một ít trong mâm thức ăn bỏ vào xalet hoặc chiếc bè được làm bằng bẹ chuối, treo ở ngã ba đường (nếu là xalet) hoặc thả xuống sông (tống bè)[1].

Có ý kiến cho rằng thức ăn đựng trong xalet là để dành cho những "man ri", "mọi rợ", "kẻ Chàm" không đến dự lễ kịp. Tuy nhiên, nội dung của văn khấn khi tống bè mà tác giả tiếp cận được ở Phú Yên đã phản ánh ý nghĩa của hành động này: một là cung cấp lương thực để chư thần về nơi trú ngụ của mình, hai là mang đi bệnh tật và tai nạn, để lại phước lành, khang thái lại cho gia chủ[1].

Khi gần xong lễ, gia chủ sẽ sớt một ít vật thực và một số thực phẩm nói trên vào cái bẹ chuối gập thành hình cái đãy nhỏ cùng ít áo giấy âm binh đem treo ở góc vườn. Vàng mã thì đốt đi, cháo thánh, gạo muối vãi lên trên khi lửa đốt sắp tàn[3].

Xong lễ, người Huế thường để lại cặp chân gà lễ để đem đi "xem giò" nhằm biết được cát, hung, họa, phúc trong năm của gia đình[3].

Vì sao tục cúng đất ở Huế vẫn được lưu giữ đều đặn?

Báo Huế Ngày Nay viết rằng nghe nói trước đây từ Quảng Bình trở vào cho hết vùng ngũ Quảng (Quảng Bình, Quảng Trị, Quảng Đức tức vùng Huế, Quảng Nam, Quảng Ngãi) đều có tục cúng đất[2]. Song vì biến động lịch sử và những hoàn cảnh kinh tế xã hội khác nhau, nên sau chiều dài nhiều thế kỷ, tục lệ này ở nhiều vùng đã mai một gần hết, duy chỉ còn Huế là nơi vẫn lưu giữ đều đặn và đậm nét[2].

Là vùng đất xứ Kinh kỳ đầy tâm linh, Huế vẫn giữ nét truyền thống ấy một cách đầy thành kính[3]. Tháng Hai, làm gì thì gì, các gia đình người Huế đều phải xong cái lễ cúng đất thì mới cảm thấy an lòng[2].

Ý nghĩa tạ ơn thổ thần và chủ đất cũ

Lễ cúng này như một hình thức tưởng nhớ, tri ân chư thần, anh linh chư vị tiền nhân "chủ cũ" của vùng đất, cầu mong họ phù trì để cuộc sống nơi vùng đất mới của những cư dân mới được an vui, phát triển[2].

Ở góc độ nhân học, biểu tượng mang tính hồi tưởng trong nghi lễ cúng đất của người Việt ở miền Trung là những sự vật được người thực hành nghi lễ diễn giải gắn liền với dấu ấn của những sắc dân mà họ cùng chung sống trong lịch sử ở xứ Đàng Trong[1]. Đây có thể xem là một lối hành xử đầy nhân văn, tôn trọng Thần và Người thuộc các sắc dân tiền trú ở vùng đất mới của người Việt[1].

Lễ cúng này biểu tỏ nét đẹp trong tâm thức của cư dân Huế nhằm cầu nguyện âm siêu, dương thái, cuộc sống an lành[3].

Bảng tóm tắt lễ vật ba bàn cúng đất

Bàn cúngTheo trang Khám phá Huế[3]Theo báo Huế Ngày Nay[2]
Bàn thượngBộ áo thổ thần, con gà, bát xôi, xôi chèXôi, gà trống luộc nguyên con đủ lòng, huyết
Bàn trungHai bộ áo bà, năm bộ áo ngũ phương, thịt heo luộc, đĩa xôi, ba đĩa cua trứng luộc, mâm cỗ cúng cơm, rau khoai luộc, chén nước ruốc, xâu cá, thịt nướngGà mái nguyên con, cua, trứng, thịt luộc
Bàn hạÁo, cháo, gạo, muối, khoai, sắn, đậu lạcCơm cộ, xôi chè, khoai sắn, hạt nổ, xâu cá vụn nướng, mắm nêm, rau luộc

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Cúng đất ở Huế thường cúng vào tháng nào âm lịch?

Cúng đất ở Huế thường diễn ra hai lần trong năm vào một ngày tốt trong tháng Hai và tháng Tám âm lịch. Tháng Hai là dịp cầu xin cho mở đầu một năm thuận lợi, còn tháng Tám là cúng để tạ ơn thổ thần đất đai đã trợ giúp phù trì.

Lễ vật ba bàn trong tục cúng đất gồm những gì?

Bàn thượng đặt bộ áo thổ thần, gà luộc, bát xôi, xôi chè. Bàn trung đặt hai bộ áo bà, năm bộ áo ngũ phương, thịt heo luộc, đĩa xôi, ba đĩa cua trứng luộc, rau khoai luộc, chén nước ruốc, xâu cá thịt nướng. Bàn hạ đặt áo, cháo, gạo, muối, khoai, sắn, đậu lạc.

Vì sao người Huế cúng đất lại cúng cả cô hồn người Chăm?

Theo tương truyền, khi người Việt vào tiếp nhận vùng đất hai châu Ô, Lý từ năm 1306, họ mang lòng tôn kính đối với người dân bản địa và các vị thần linh ở đây. Việc dâng cúng những cô hồn người Chăm từng cư trú là cách tưởng nhớ và tri ân các vị chủ đất cũ, cầu mong họ phù trì cho cuộc sống của cư dân mới.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghijklmBáo Nhân Dân, Một lối hành xử nhân văn, Đoạn về nghi lễ cúng đất ở Thừa Thiên Huế và Nam Trung BộTrong những ngày tháng hai (âm lịch), người ta có thể thấy một nghi lễ khá đặc biệt mà nhà nhà ở Thừa Thiên Huế thực hành, đó là lễ Cúng đất.
  2. ↑ abcdefghijHuế Ngày Nay, Tháng hai cúng đất..., Bài của Hiền An về tục cúng đất tháng Hai ở HuếTháng hai, làm gì thì gì, các gia đình người Huế đều phải xong cái lễ cúng đất thì mới cảm thấy an lòng.
  3. ↑ abcdefghijklmnopqKhám phá Huế, Tục lệ cúng đất của người dân Huế, Mục Phong tục - Tập quánCúng đất còn có tên là lễ "Tạ thổ kỳ yên". Cúng đất là lễ dâng cúng cho các vị thần Đất và các vị thần phối thuộc, mỗi năm diễn ra hai lần vào một ngày tốt trong tháng 2 và tháng 8 âm lịch.
#CúngĐất#TạThổKỳAn#TínNgưỡngDânGian#PhongTụcHuế#XứQuảng#CúngThángHai#LễVậtCúngĐất