
TL;DR: Dâng sao giải hạn là tục cúng sao đầu năm dựa trên niên hạn theo Cửu Diệu trong lịch vạn sự. Công văn 033/CV-HĐTS ngày 20/2/2019 của Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam nêu rõ đây không phải nghi lễ Phật giáo mà có gốc từ Lão giáo, và đề nghị các chùa làm lễ cầu an đầu xuân bằng pháp hội Dược Sư. Cửu Diệu cũng khác với hệ sao hạn dùng trong Tử Vi.
Dâng sao giải hạn đầu năm là gì?
Dâng sao giải hạn đầu năm là tục cúng sao theo niên hạn của từng tuổi, thường làm vào dịp đầu năm âm lịch tại chùa, đền, miếu hoặc tại nhà. Người đi lễ dâng sớ có ghi tên tuổi và sao hạn của mình trong năm, cầu mong sao xấu được hoá giải, sao tốt được tăng phúc. Tục này gắn với niềm tin rằng mỗi năm mỗi người chịu ảnh hưởng của một ngôi sao chiếu mệnh, sao tốt thì thuận lợi, sao xấu thì phải cúng để tránh tai ương.
Nhà nghiên cứu Lê Đức Hạnh, trong bài khảo sát đăng trên Tạp chí Nghiên cứu Tôn giáo năm 2008, ghi nhận cúng sao giải hạn cùng với cầu an, cầu siêu, cầu duyên, hành hương lễ Phật là những hoạt động tín ngưỡng tôn giáo phổ biến ở người Việt vùng đồng bằng Bắc Bộ vào dịp đầu năm[1]. Người viết bài dựa vào việc quan sát tham dự và phỏng vấn sâu những người đi lễ thuộc nhiều lứa tuổi lẫn nghề nghiệp; nhờ vậy bài khắc hoạ được người dân hiểu và thực hành ra sao, chứ không nhằm đo tỉ lệ người tham gia[1].
Cửu Diệu là gì và vì sao có chín sao?
Cửu Diệu là chín ngôi sao được dùng để tính sao hạn năm cho từng tuổi trong lịch vạn sự. Chín sao gồm La Hầu, Thổ Tú, Thuỷ Diệu, Thái Bạch, Thái Dương, Thái Âm, Kế Đô, Mộc Đức và Vân Hán; mỗi sao được coi là tốt hay xấu ở mức khác nhau, và tuổi nào gặp sao nào thì căn cứ vào bảng tính sẵn trong lịch vạn sự. Cách tính này là quy ước của sách lịch, không phải kết quả của một phép đo thiên văn.
Trong bài của Lê Đức Hạnh, phần mô tả cách các chùa ở Hà Nội tổ chức lễ cho thấy nhà chùa căn cứ vào lí tính và cách cúng các sao để lập bàn cúng giải theo ngày: ngày 8 hàng tháng dành cho người có sao La Hầu, ngày 15 cho sao Thái Bạch, ngày 18 cho sao Kế Đô[1]. Đây là ba sao thường được coi là nặng nhất trong Cửu Diệu, nên được bố trí lễ riêng.
Cửu Diệu khác sao hạn Tử Vi ở chỗ nào?
Cửu Diệu và sao hạn trong Tử Vi là hai hệ thống khác nhau, dù cùng dùng chữ "sao". Lịch vạn sự có phần tính sao hạn theo tuổi để người ta tra cứu khi cúng sao giải hạn. Sao hạn Tử Vi nằm trong lá số Tử Vi, gồm chính tinh và phụ tinh an theo ngày giờ sinh, rồi luận theo cung và vận hạn. Việc an sao trong Tử Vi là quy ước của sách Tử Vi, có nhiều phái tính khác nhau.
| Tiêu chí | Cửu Diệu (lịch vạn sự) | Sao hạn Tử Vi |
|---|---|---|
| Số lượng sao | Chín sao cố định | Nhiều chính tinh, phụ tinh |
| Căn cứ tính | Tuổi âm và năm xem | Ngày, giờ, tháng, năm sinh |
| Cách tra | Bảng in sẵn trong lịch vạn sự | Lập lá số rồi luận theo cung |
| Mục đích | Xem sao hạn năm để cúng | Luận vận mệnh, vận hạn |
| Tính chất | Quy ước của sách lịch | Quy ước của sách Tử Vi, nhiều phái |
Bảng trên cho thấy hai hệ không thể thay thế nhau: biết mình gặp sao La Hầu trong năm không nói gì về cung Mệnh hay cung Hạn trong lá số Tử Vi, và ngược lại.
Tục dâng sao giải hạn có từ đâu?
Tục dâng sao giải hạn ở người Việt đồng bằng Bắc Bộ được Lê Đức Hạnh mô tả là một hoạt động tín ngưỡng tôn giáo mang tính xã hội, tiếp cận từ góc độ nhân học xã hội[1]. Bài viết không truy nguyên tục này về một thời điểm lịch sử cụ thể, mà tập trung mô tả cách nó đang được thực hành: người dân sắm lễ chay hoặc lễ mặn, dâng sớ cúng sao, hoá tiền vàng, và tổ chức ở ba nơi chính là đền miếu phủ, chùa, và tại gia[1].
Về nguồn gốc xa hơn, giới nghiên cứu thường đặt tục cúng sao trong bối cảnh giao thoa giữa tín ngưỡng dân gian bản địa với quan niệm về sao chiếu mệnh của thiên văn cổ phương Đông. Chưa có nghiên cứu nào trong nguồn hiện có xác định được tục này du nhập vào Việt Nam từ thời điểm nào, qua con đường nào; vì vậy không nên khẳng định một mốc cụ thể.
Các chùa tổ chức lễ này ra sao?
Theo ghi nhận của Lê Đức Hạnh, tại một số chùa Hà Nội, vào dịp đầu năm, lễ cúng sao giải hạn thường được tổ chức cho đông người theo hình thức tập thể[1]. Về thời gian, lễ thường kéo dài từ mồng 5 cho đến hết tháng Giêng; tuy nhiên, tính đến thời điểm bài viết năm 2008, một, hai năm trở lại đây lượng người đến đông hơn, nên không ít chùa đã kéo dài lễ sang quá ngày 20 tháng Giêng, thậm chí cá biệt có chùa làm lễ suốt hàng tháng[1].
Ở đền, miếu, phủ, cách tổ chức cũng được bài mô tả lại: không ít người sắm lễ chay, dâng sớ cúng sao, hoá tiền vàng ngay tại đó và chỉ mang về một chút lộc; riêng một số thương gia buôn bán giàu có thì thường làm cả lễ chay lẫn lễ mặn, rồi nhờ nhà đền, nhà phủ dâng sao giải hạn, và khi ấy lễ vật buộc phải bày ở bàn ngoài trời[1]. Sự phân biệt lễ chay, lễ mặn và vị trí bày lễ cho thấy tục này có một lớp nghi thức khá chặt, không chỉ là thắp hương cầu khấn đơn giản.
Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói gì về dâng sao giải hạn?
Ngày 20/2/2019, Hội đồng Trị sự Giáo hội Phật giáo Việt Nam ban hành Công văn số 033/CV-HĐTS gửi Ban Trị sự các tỉnh, thành, do Hòa thượng Thích Thiện Nhơn, Chủ tịch Hội đồng Trị sự, ký[2][3]. Công văn nêu rõ nghi lễ dâng sao giải hạn không phải là nghi lễ của Phật giáo, mà là tư tưởng triết học của Lão giáo đã hòa nhập với Phật giáo trong truyền thống Tam giáo đồng nguyên[2].
Công văn đề nghị chư tôn đức gương mẫu tổ chức nghi thức cầu an đầu xuân tại các chùa bằng các pháp hội Dược Sư cầu quốc thái dân an; lễ phải trang nghiêm, tiết kiệm, tránh mê tín dị đoan và tránh yếu tố dịch vụ, trục lợi[3].
Đây là hướng dẫn của tổ chức giáo hội cho các chùa trong hệ thống của mình, không phải một kết luận khoa học về tác dụng của tục cúng sao. Lễ cầu an là nghi thức Phật giáo cầu bình an cho người còn sống; dâng sao giải hạn là tục cúng sao theo Cửu Diệu.
Vì sao người dân vẫn đi dâng sao giải hạn?
Lê Đức Hạnh cho thấy người đi lễ thuộc nhiều lứa tuổi, nghề nghiệp, cương vị xã hội khác nhau, và động cơ thường là cầu an tâm, cầu may mắn cho năm mới, chứ không chỉ vì tin vào sao hạn[1]. Nghiên cứu này là định tính, mô tả ý nghĩa và mục đích của hiện tượng tín ngưỡng, không đo tỉ lệ người tin hay không tin[1].
Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu gia đình có người muốn đi chùa đầu năm, có thể chọn lễ cầu an theo đúng chỉ đạo của Giáo hội, hoặc đi lễ chùa với tâm thế cầu bình an, không đặt nặng chuyện sao hạn. Với người coi trọng tục cúng sao, việc tra bảng Cửu Diệu trong lịch vạn sự là tra cứu quy ước, không phải dự báo chắc chắn về vận mệnh. Không nên chi tiền lớn cho lễ giải hạn với lời hứa hẹn cụ thể về tài lộc hay sức khoẻ.
Những điểm dễ nhầm khi tra cứu
- Sao hạn không phải Tử Vi: hai hệ tính khác nhau, không dùng lẫn bảng tra.
- Lễ cầu an không phải dâng sao giải hạn: công văn năm 2019 của Giáo hội Phật giáo Việt Nam nói dâng sao giải hạn không phải nghi lễ Phật giáo và đề nghị các chùa làm lễ cầu an đầu xuân bằng pháp hội Dược Sư.
- Không có mốc lịch sử xác định tục du nhập: nguồn hiện có chỉ mô tả thực hành đương đại, không truy được niên đại khởi phát.
