Tri thức / Đông phương / Phong thuỷ

Phong thủy

Hám Long Kinh và Nghi Long Kinh: hai sách quy cho Dương Quân Tùng luận long mạch thế nào?

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Hám Long Kinh và Nghi Long Kinh: Dương Quân Tùng luận long mạch như thế nào?

TL;DR: Hám Long Kinh và Nghi Long Kinh là hai tác phẩm phong thủy truyền thống quy cho Dương Quân Tùng, bàn về cách nhận diện long mạch thật và tránh nhầm chi long với chân long. Hám Long Kinh nghiêng về phân loại chín sao hình thế, còn Nghi Long Kinh nghiêng về giải nghi các tình huống dễ nhầm khi tầm long. Lời đề yếu của Tứ khố toàn thư ghi rằng ở đời Tống hai sách chưa đề tên ông. Hai sách chỉ nên đọc như tư liệu về quan niệm địa lý cổ, không phải chỉ dẫn bảo đảm tài lộc hay sức khỏe.

Hám Long Kinh và Nghi Long Kinh là gì?

Hám Long Kinh và Nghi Long Kinh là hai tác phẩm phong thủy cổ, truyền thống quy cho Dương Quân Tùng, người mà giới thuật số truyền là thầy địa lý cuối đời Đường. Hám Long Kinh (撼龍經) bàn về cách nhận diện và phân loại long mạch theo hình thế núi non, còn Nghi Long Kinh (疑龍經) bàn về những chỗ dễ nghi ngờ, dễ nhầm lẫn khi tầm long, giúp người học phân biệt chân long với chi long, huyệt thật với huyệt giả[1].

Cả hai tác phẩm đều thuộc dòng địa lý hình thế. Lời đề yếu của Tứ khố toàn thư, chép ở đầu bản trên Wikisource tiếng Trung, tóm tắt như sau: Hám Long Kinh chuyên nói mạch lạc, hình thế của núi, chia chín sao; Nghi Long Kinh thiên thượng nói cách tìm cành trong cán, lấy quan cục, thủy khẩu làm chính; thiên trung luận tầm long tới chỗ long dừng, xem mặt và lưng, triều và nghênh; thiên hạ luận hình thế kết huyệt, kèm mười câu hỏi Nghi long thập vấn[1].

Dương Quân Tùng là ai và vì sao hai kinh này quan trọng?

Dương Quân Tùng không có truyện trong chính sử. Lời đề yếu của Tứ khố toàn thư ghi rằng chỉ thư mục của Trần Chấn Tôn đời Tống có chép tên ông, còn Tống sử Nghệ văn chí chỉ gọi là Dương Cứu Bần[1]. Giới thuật số truyền rằng ông tên Ích, người Đậu Châu, giữ việc địa lý ở Linh đài, đời Quảng Minh gặp loạn Hoàng Sào thì mang sách bí thuật trong cung trốn đi rồi qua lại đất Kiền Châu; đề yếu gọi đó là lời không có căn cứ (無稽之談). Đề yếu còn ghi thư mục đời Tống chép Nghi Long Kinh một quyển, Biện Long Kinh một quyển, đều không có tên tác giả, tức ở đời Tống sách chưa đề là của Dương Quân Tùng, và bản ngày nay không rõ dựa vào đâu mà đề như vậy[1].

Truyền thống còn quy cho Dương Quân Tùng bài quyết ngắn Thanh Nang Áo Ngữ (青囊奧語), mở đầu bằng phép gán các sao Cự Môn, Phá Quân, Vũ Khúc, Tham Lang cho từng nhóm sơn hướng và nhắc tới huyền không, ngũ hành[2]; đó là một bài về lý khí. Hám Long Kinh và Nghi Long Kinh thì bàn cách nhìn núi, nhìn nước, nhìn long mạch trên thực địa[1].

Hám Long Kinh dạy cách nhận diện long mạch ra sao?

Hám Long Kinh dạy người tầm long nhìn hình thế núi để phân loại long mạch theo chín sao: Cửu tinh gồm Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân, Tả Phụ và Hữu Bật[1]. Sách viết người đời nói chín sao có ba sao cát là Tham Lang, Cự Môn, Vũ Khúc, kế đó là Phụ, Bật; Lộc, Văn, Liêm, Phá là nhóm còn lại (貪巨武星並輔弼,祿文廉破地中行。九星人言有三吉,三吉之余有輔弼)[1].

Ở từng chương, sách tả hình của mỗi sao: Tham Lang "đốn khởi duẩn sinh phong" (頓起筍生峰), vọt lên như măng mọc; Cự Môn "bất tiêm bất viên kỳ thể phương" (不尖不圓其體方), không nhọn không tròn, thân vuông; Vũ Khúc như chuông úp, nồi úp (覆鐘釜)[1]. Bài ca ở cuối sách, theo bản trên Wikisource, tả lại bảy sao kèm lời đoán: "Tham Lang nhất mộc thế tiêm cường" (貪狼一木勢尖強), Tham Lang thuộc mộc, thế nhọn mà mạnh, đủ văn chương; Cự Môn thuộc thổ, "đoan chính tú lệ như nga mi" (端正秀麗如蛾眉), ngay ngắn, đẹp như mày ngài, sinh người trung lương chính trực; Vũ Khúc thuộc kim, "trác khuê lập hốt cao thiên tầm" (卓圭立笏高千尋), như ngọc khuê, thẻ hốt dựng cao nghìn tầm, chủ binh quyền, nhiều thao lược[1].

Bốn sao còn lại bị bài ca ấy tả bằng lời xấu. Lộc Tồn thuộc thổ, "xú ác băng khi bất miên mị" (醜惡崩欹不綿媚), xấu xí, lở nghiêng, không mềm mại ưa nhìn. Văn Khúc thuộc thủy, "sinh chi sinh túc như diên du" (生枝生足如蜒蚰), mọc cành mọc chân như con sên; bài ca nói đất ấy chủ du đãng, "trai không trung, gái không hiền" (男不忠兮女不賢). Liêm Trinh là "độc hỏa đại hung tai" (獨火大凶災), cao nhọn xấu xí. Phá Quân thuộc kim, "chiêu hung ác" (招凶惡), đỉnh núi lởm chởm, gò đá loạn[1]. Ở các chương chính, sách tả Lộc Tồn như cái trống đặt (如頓鼓), Văn Khúc như rắn bò (蛇行), Phá Quân như lá cờ bay, trước cao sau thấp (如走旗), và không coi sao hung là thứ bỏ đi: "người đời chỉ bảo Tham Lang tốt, không biết Liêm Trinh là tổ tông" (世人只道貪狼好,不識廉貞是祖宗)[1].

SaoHành theo bài ca cuối sáchHình thế theo sáchLời đoán trong bài ca
Tham LangMộcVọt lên như măng mọc; thế nhọn, mạnhVăn chương, đỗ đạt
Cự MônThổKhông nhọn không tròn, thân vuông; ngay ngắn như mày ngàiTrung lương, phú quý
Lộc TồnThổNhư cái trống đặt, dưới có chân như quả bầu; xấu xí, lở nghiêngBệnh tật, con cháu bỏ đi xứ khác
Văn KhúcThủyNhư rắn bò; mọc cành mọc chân như con sênDu đãng, trai không trung, gái không hiền
Liêm TrinhHỏaCao lớn, đỉnh núi đá lởm chởm; cao nhọn xấu xíTai họa, bại vong
Vũ KhúcKimNhư chuông úp, nồi úp; như ngọc khuê, thẻ hốt dựng caoBinh quyền, thao lược
Phá QuânKimNhư lá cờ bay, trước cao sau thấp; gò đá loạnHung ác, con cháu hao mòn
Tả Phụ(không gán hành)Như khăn bộc đầu, trước cao sau thấp; thường sinh hai bên Vũ KhúcSao cát đi kèm
Hữu Bật(không gán hành)Vốn không có hình, gọi là sao ẩn; là mạch chìm đi theo thân longSao cát đi kèm

Bảng trên tóm tắt cách Hám Long Kinh mô tả từng sao, dựa trên văn bản gốc[1].

Nghi Long Kinh giải nghi những tình huống nào?

Nghi Long Kinh tập trung vào những chỗ người tầm long dễ nhầm lẫn nhất. Mở đầu thiên thượng, tác phẩm viết: "Nghi long hà xứ tối nan nghi, tầm đắc tinh phong khước thị chi", nghĩa là chỗ khó nghi nhất trong việc tầm long là khi tìm được một ngọn núi đẹp nhưng thực ra chỉ là chi long, không phải chân long[1].

Thiên thượng nhắc lại ý ấy ở đoạn sau: tìm được đỉnh sao mà hóa ra là cành, trong cành mạch chạy loạn không có huyệt chính, tới chỗ chân long thì lại ngờ là không phải, chỉ vì không nhận ra hộ vệ hai bên (尋得星峰卻是枝。枝中亂來無正穴,真龍到處又疑非。只緣不識兩邊護)[1]. Sách cũng viết rằng cán long còn đi chưa dừng thì cành đã rẽ xuống sớm, nên tìm huyệt ở đó thì không có (就中尋穴穴卻無,幹去未休枝早落)[1].

Một đoạn quan trọng trong Nghi Long Kinh viết: "Chính long thân thượng bất sinh phong, hữu phong giai thị chi diệp tống", nghĩa là trên thân chính long không mọc đỉnh núi, có đỉnh thì đều là cành lá đi tiễn. Câu liền sau bảo người đã thấy thân cán long như vậy thì tìm ở chỗ cán long tận cùng (的向幹龍窮處覓)[1].

Vì sao hai kinh này thường được đọc cùng nhau?

Hám Long Kinh và Nghi Long Kinh bổ sung cho nhau. Hám Long Kinh cung cấp hệ thống phân loại hình thế, còn Nghi Long Kinh cung cấp phương pháp kiểm tra, đặt nghi vấn trước những gì trông có vẻ đẹp. Đọc riêng Hám Long Kinh dễ dẫn đến việc áp dụng máy móc theo hình dạng núi, còn đọc riêng Nghi Long Kinh dễ thiếu cơ sở phân loại.

Đọc hai kinh này cần lưu ý gì?

Hám Long Kinh và Nghi Long Kinh là văn bản cổ, ngôn ngữ cô đọng, nhiều ẩn dụ. Người đọc không nên áp dụng máy móc các mô tả hình thế vào thực địa ngày nay, vì cảnh quan đã thay đổi nhiều và các quy tắc cổ không tính đến yếu tố hiện đại như giao thông, đô thị hóa.

Hai sách này là diễn giải của một truyền thống thuật số, không phải dữ kiện khoa học. Đọc để hiểu quan niệm cổ về địa lý và phong thủy, không nên xem là chỉ dẫn bảo đảm tài lộc hay sức khỏe.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Hám Long Kinh và Nghi Long Kinh khác nhau ở điểm nào?

Hám Long Kinh tập trung phân loại long mạch theo chín sao và hình thế núi, còn Nghi Long Kinh bàn về những chỗ dễ nhầm lẫn khi tầm long, giúp phân biệt chân long với chi long. Hai tác phẩm bổ sung cho nhau, thường được đọc cùng.

Dương Quân Tùng có thật sự là tác giả của hai kinh này không?

Truyền thống phong thủy quy hai kinh này cho Dương Quân Tùng, thầy địa lý đời Đường. Tuy nhiên, ông không có truyện trong chính sử; lời đề yếu của Tứ khố toàn thư gọi các chuyện về tiểu sử ông là không có căn cứ và ghi rằng thư mục đời Tống chép Nghi Long Kinh không có tên tác giả.

Ngày nay có nên áp dụng Hám Long Kinh và Nghi Long Kinh vào thực tế không?

Có thể đọc để hiểu quan niệm cổ về địa lý và phong thủy, nhưng không nên áp dụng máy móc vì cảnh quan đã thay đổi nhiều. Đây là diễn giải huyền học, không phải chỉ dẫn bảo đảm tài lộc hay sức khỏe.

Bài này thuộc chủ đề Phong thuỷ. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Phong thuỷ.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abcdefghijklmnopDương Quân Tùng (truyền thống quy) (không rõ năm). Hám long kinh, Nghi long kinh (撼龍經, 疑龍經), Trang 3, phần Hám Long Kinh và Nghi Long Kinh/上篇貪狼一木勢尖強,鬼星秀麗足文章。
  2. ↑Dương Quân Tùng (truyền thống quy) (không rõ năm). Thanh nang áo ngữ (青囊奧語), Trang 1坤壬乙, 巨門從頭出 ,艮丙辛, 位位是破星
#HámLongKinh#NghiLongKinh#DươngQuânTùng#LongMạch#PhongThủy#ĐịaLýCổ#CửuTinh