Nhật Nguyệt

Tri thức / Đông phương / Phong thuỷ

Phong thủy

Tầm long là gì và thầy địa lý đi tìm long mạch theo trình tự nào: từ thái tổ sơn, thiếu tổ sơn, qua chỗ thắt tới long nhập thủ

Chia sẻ:
Tầm long là gì và thầy địa lý đi tìm long mạch theo trình tự nào: từ thái tổ sơn, thiếu tổ sơn, qua chỗ thắt tới long nhập thủ
TL;DR: Tầm long là truy ngược dãy núi từ ngọn tổ xa xôi về tới chỗ kết huyệt, dựa trên trình tự tổ tông sơn, thiếu tổ sơn, phụ mẫu sơn rồi tới huyệt tỉnh sơn, qua các chỗ thắt như quá hiệp và thúc yết. Long được phân thành chân long và giả long, cùng nhiều dạng như sinh, tiến, thoái, phúc, bệnh, kiếp, sát. Hình núi thì nhận theo ngũ tinh hoặc cửu tinh, và đây là hình thế chứ không phải sao Huyền Không. Riêng ở Việt Nam, Tả Ao được tôn là bậc thầy địa lý, nhưng năm sinh của ông lệch nhau tới hai thế kỷ giữa các nguồn, và các sách mang tên ông chưa chắc do một người viết.

Tầm long là gì và vì sao phải đi từ xa về gần?

Tầm long là truy ngược một dãy núi từ ngọn khởi nguồn xa xôi về tới chỗ kết huyệt, nhằm xác định đâu là mạch thật, đâu là mạch giả, và chỗ nào đáng đặt huyệt. Sách Phương pháp tầm Long Mạch mở đầu bằng nguyên tắc: trước tiên đỉnh nhô cao là tổ, đỉnh kế là tông, rồi hai đỉnh hai bên là phụ mẫu, và cuối cùng mới xem hình thế để tìm huyệt. Lý do phải đi xa là vì long ở xa thì mạch dài, đắc thủy nhiều, còn long ở gần thì mạch ngắn, đắc thủy ít.

Loan đầu: long, huyệt, sa, thủy trên một thế đất.
Loan đầu: long, huyệt, sa, thủy trên một thế đất.

Nói cách khác, tầm long không phải là đứng tại chỗ nhìn quanh rồi phán. Nó là một hành trình ngược dòng, đòi hỏi người đi phải lần theo thế núi, dòng nước và các nhánh phân chi để tìm ra gốc rễ.

Trình tự tầm long đi qua những loại sơn nào?

Sách Nhập môn loan đầu: tầm long điểm huyệt chia long mạch từ khởi nguồn tới kết huyệt thành bốn sơn chính. Thứ nhất là tổ tông sơn, tức đầu nguồn của long mạch, một ngọn núi hùng tráng vượt trội, có vạn núi vây quanh, mọi mạch lạc đều từ đây mà ra. Thứ hai là thiếu tổ sơn, tức ngọn núi đột ngột nhô lên trong khi long đang hành, cao hơn mọi núi nhưng vẫn thấp hơn tổ sơn.

Thứ ba là phụ mẫu sơn, tức chỗ quá hiệp của hợp cách, nơi long mạch thắt lại rồi chuẩn bị bung ra kết huyệt. Thứ tư là huyệt tỉnh sơn, tức nơi tỉnh phong kết huyệt. Xen giữa phụ mẫu sơn và huyệt tỉnh sơn là bốn giai đoạn thai, tức, dựng, dục, mô tả quá trình long mạch tích tụ sinh khí trước khi kết tụ thành huyệt.

Quá hiệp, thúc yết và long nhập thủ khác nhau thế nào?

Quá hiệp là chỗ long mạch thắt lại, khí tụ vào một điểm hẹp rồi lại mở ra. Thúc yết là những chỗ co thắt nhỏ hơn trên đường đi, từng đoạn một. Còn long nhập thủ là đoạn long mạch đổ vào huyệt trường, tức điểm cuối cùng trước khi kết huyệt. Sách Phương pháp tầm Long Mạch nhấn mạnh rằng phải phân biệt được long nhập thủ vì đây là chỗ quyết định sinh khí có vào được huyệt hay không.

Cũng theo sách này, hướng của long mạch được định bằng thủy: nếu có minh thủy thì lấy minh thủy làm chuẩn, nếu không có minh thủy thì lấy nước mưa làm chuẩn, vì nước chảy tới chỗ trũng là quy luật ngàn đời. Phương lai thủy được xem là thủy tổ của long mạch, và nơi nước tích tụ lại chính là chỗ kết huyệt.

Chân long và giả long được phân biệt ra sao?

Chân long là long mạch mang sinh khí vượng, tươi tốt, viên mãn, có thể kết huyệt phát phú quý. Giả long là long mạch không đủ sinh khí, hoặc hình thế có vẻ đẹp nhưng thực chất không tụ khí. Sách Phương pháp tầm Long Mạch đã nêu rõ nguyên tắc: nếu long đến từ khoảng cách xa, phú quý sẽ lâu bền; còn khi long chỉ ngắn ngủi, phú quý cũng chẳng dài lâu.

Một điểm quan trọng cần lưu ý: theo sách Phương pháp tầm Long Mạch, nếu nhập thủ tương phản với sinh vượng của tứ cục, phạm vào bát sát, thì dù hình tượng có đẹp đến đâu cũng trở thành long giả. Điều này cho thấy chân long không chỉ là chuyện hình thế bề ngoài, mà còn phụ thuộc vào sự tương hợp giữa long và hướng huyệt.

Các loại long theo hình thế và theo khí thế

Sách Phương pháp tầm Long Mạch phân long theo hình thái thành chín dạng: hồi long, xuất dương long, giáng long, sinh long, phi long, ngọa long, và các dạng khác. Mỗi dạng có đặc điểm riêng. Ví dụ, hồi long là thế uốn lượn hướng về tổ tông như rồng khoanh hổ ngồi. Xuất dương long là thế vươn tới như thú ra khỏi rừng. Giáng long là thế sừng sững uy nghi như nhập triều đại tọa.

Ngoài ra, sách còn phân long theo khí thế thành các loại như thuận long, nghịch long, tiến long, thoái long, phúc long, bệnh long, kiếp long, sát long. Bảng dưới đây tóm tắt các loại long chính cùng đặc điểm và đánh giá của sách Phương pháp tầm Long Mạch.

Loại longĐặc điểm hình thếĐánh giá của sách
Tiến longThế núi đế nhau dư, phân nhánh đều như ôm xuống, hậu long từng đoạn tăng cao dầnRất tốt
Thoái longThế núi mất trật tự, tay chân ngắn dần, long lùi về sau, bắt đầu nhỏ về sau càng lớnRất xấu
Phúc longHai bên kín kẽ, trước sau chiếu cố, chân tay không lớn nhưng có kho lẫm, sơn minh thủy túChủ phát phúc lâu dài
Bệnh longBản thân bất toàn, bên sinh bên tử, bên đẹp bên xấu, một bên kín một bên khuyếtThuộc long xấu, bán cát bán hung
Kiếp longPhân nhánh rất nhiều nhưng không đoan chính, đông tây loạn xạ, chân khí phân tánKhông tốt
Sát longMang sát khí, đá núi hiểm trở, lởm chởmRất xấu

Cần lưu ý rằng cách phân loại này có sự khác biệt giữa các sách. Trong khi sách Phương pháp tầm Long Mạch đưa ra danh mục như trên, một số tài liệu khác lại chia long thành can long, chi long, chân long, giả long, bệnh long, tử long, lại long, khí long, trực long, hoành long, phi long, tiềm long. Các phái không hoàn toàn thống nhất về danh mục, nhưng nguyên tắc chung là dựa vào hình thế và khí thế để đánh giá.

Nhận dạng núi theo ngũ tinh và cửu tinh hình thế

Khi tầm long, người xưa nhận dạng núi theo hình dáng để suy ra thuộc tính ngũ hành. Núi tròn, đỉnh tù là kim tinh. Núi nhọn, cao vút là hỏa tinh. Núi vuông, bằng phẳng là thổ tinh. Núi dài, uốn lượn là mộc tinh. Núi gợn sóng, mềm mại là thủy tinh. Đây là các hình thế cơ bản, và mỗi hình lại có tốt xấu tùy vị trí và tương quan với huyệt.

Bảng dưới đây tóm tắt ngũ tinh hình núi cùng hành và đánh giá chung.

Hình núiHànhĐặc điểm nhận dạngĐánh giá chung
Kim tinhKimTròn, đỉnh tù, thân phìnhThường tốt, chủ phú quý, nhưng cần xem vị trí
Mộc tinhMộcDài, uốn lượn, thẳng đứngTốt nếu uốn lượn có tình, xấu nếu khô cứng
Thủy tinhThủyGợn sóng, mềm mại, uốn éoTốt, chủ sinh khí, nhưng kỵ lệch lạc
Hỏa tinhHỏaNhọn, cao vút, sắc cạnhThường xấu nếu đứng lẻ loi, tốt nếu làm án sơn
Thổ tinhThổVuông, bằng phẳng, rộngTốt, chủ ổn định, nhưng kỵ thấp trũng

Tuy nhiên, cần phân biệt rõ: các tên như Tham Lang, Cự Môn, Lộc Tồn, Văn Khúc, Liêm Trinh, Vũ Khúc, Phá Quân, Tả Phụ, Hữu Bật trong cửu tinh hình thế là để chỉ HÌNH núi, không phải sao Huyền Không. Sách Phương pháp tầm Long Mạch có nhắc tới cửu tinh, nhưng đây là cách gọi hình thế theo cửu tinh, khác với hệ thống sao trong Huyền Không phi tinh dùng để tính vận khí theo thời gian.

Dương Công dùng cửu tinh, sách khác dùng ngũ tinh

Theo truyền thống, Dương Công (Dương Quân Tùng) được cho là người hệ thống hóa cửu tinh hình thế, tức phân núi thành chín dạng tương ứng với chín ngôi sao Bắc Đẩu. Trong khi đó, nhiều sách địa lý khác chỉ dùng ngũ tinh, tức năm hành cơ bản. Sự khác biệt này không phải mâu thuẫn mà là hai cách phân loại có độ chi tiết khác nhau. Ngũ tinh là nền tảng, cửu tinh là mở rộng. Người học cần biết mình đang theo hệ nào để tránh nhầm lẫn khi đọc sách.

Tả Ao và các sách địa lý mang tên ông

Tả Ao, hay Tả Ao tiên sinh, được tôn là Thánh sư Địa lý, người Việt Nam đầu tiên học được địa lý chính tông ở Trung Quốc, theo Báo Hà Tĩnh. Ông quê ở làng Tả Ao, xưa thuộc tổng Hoa Viên, phủ Đức Quang, trấn Nghệ An, nay là xã Xuân Giang, huyện Nghi Xuân, tỉnh Hà Tĩnh. Ông được coi là bậc thầy khai sinh ngành địa lý phong thủy Việt Nam, học rộng tài cao nhưng không ra làm quan mà ngao du thiên hạ giúp dân chọn đất lành.

Tuy nhiên, thân thế của ông có nhiều điểm chưa thống nhất. Theo Báo Quân đội nhân dân, sách Việt Nam phong tục và Nam Hải dị nhân của Phan Kế Bính ghi tên thật của ông là Nguyễn Đức Huyền. Sách Lịch triều hiến chương loại chí của Phan Huy Chú ghi tên ngài là Hoàng Chiêm hay Hoàng Chi. Còn sách Nghi Xuân địa chí của tú tài Lê Văn Diễn viết năm 1842 ghi tên ngài là Vũ Đức Huyền, hiệu Địa Tiên.

Về năm sinh, các nhà nghiên cứu dự đoán vào khoảng năm Nhâm Tuất (1442), thời Lê Sơ, nhưng cũng có tài liệu cho rằng Tả Ao tiên sinh sống vào đời vua Lê Hy Tông (1676-1705). Như vậy, có sự lệch nhau tới hai thế kỷ giữa các nguồn. Đây là điểm cần lưu ý khi nghiên cứu về ông.

Các trước tác của ông cơ bản đã bị thất truyền, nhưng các sứ giả thời Lê-Nguyễn chép tản mát một số truyện. Các sách được cho là của Tả Ao truyền lại gồm Tả Ao chân truyền di thư, Tả Ao chân tuyển tập, Tả Ao chân truyền địa lý (5 tập), Tả Ao tiên sinh bí truyền gia bảo trân tàng, Tả Ao tiên sinh địa lý, Tả Ao xã tiên sư thư truyền bí mật các lục. Ngoài ra còn có tập Địa đạo diễn ca (120 câu văn vần), Dã Đàm Tả Ao hay Tầm long gia truyền bảo đảm (văn xuôi), Phong thủy Địa lý Tả Ao bảo ngọc thư. Các tác phẩm này hiện lưu giữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm.

Tuy nhiên, theo Báo Quân đội nhân dân, các sách mang tên Tả Ao chưa chắc do một người viết. Các nghiên cứu xưa và nay đều coi ông là Thánh địa lý Tả Ao, Thủy tổ khai môn Địa lý phong thủy Việt Nam, nhưng việc xác định tác giả đích thực của từng tác phẩm vẫn còn là vấn đề mở.

Hội thảo khoa học về Tả Ao

Năm 2020, huyện Nghi Xuân phối hợp với Viện Nghiên cứu ứng dụng kiến trúc phong thủy tổ chức Hội thảo khoa học "Thánh sư Địa lý Tả Ao với quê hương Nghi Xuân", theo Báo Hà Tĩnh. Hội thảo có 30 đề tài tham luận xoay quanh các vấn đề như hình thể, thủy pháp, tư tưởng nhân sinh trong Địa lý Tả Ao, và đặt câu hỏi phong thủy có phải là khoa học hay không. Đây là dịp để các nhà nghiên cứu phân tích các yếu tố phong thổ góp phần tạo nên giá trị Tả Ao, cũng như cách các làng xã xưa vận dụng địa lý Tả Ao để dựng làng dựng ấp.

Những điểm cần lưu ý khi học tầm long

Thứ nhất, tầm long là một quá trình đòi hỏi sự kiên nhẫn và khả năng quan sát tổng thể. Không thể chỉ nhìn một hai chi tiết của nhập thủ huyệt trường mà phán được. Phải nhìn cao, nhìn xa, tìm tọa độ của lai long từ đâu tới.

Thứ hai, có sự khác biệt giữa các phái về cách phân loại long và cách nhận dạng núi. Ngũ tinh và cửu tinh là hai hệ thống khác nhau, không nên lẫn lộn. Các tên như Tham Lang, Cự Môn trong cửu tinh hình thế là để chỉ hình núi, không phải sao Huyền Không.

Thứ ba, các sách cổ thường nhấn mạnh yếu tố đạo đức. Theo một nguồn tài liệu, sách Tả Ao Địa Lý Toàn Thư đưa ra lời cảnh báo: người giỏi địa lý vẫn có thể không hưởng được đất quý nếu thiếu đạo cao đức trọng. Đây là điểm son trong tư tưởng của các bậc thầy địa lý xưa.

Cuối cùng, cần nhớ rằng phong thủy nói chung và tầm long nói riêng là một hệ thống tri thức cổ, có giá trị văn hóa và lịch sử, nhưng không nên tuyệt đối hóa. Các kết luận về cát hung chỉ mang tính tham khảo, không nên xem là chân lý bất biến.

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Tầm long khác gì với điểm huyệt?

Tầm long là truy ngược dãy núi từ tổ sơn xa xôi về tới chỗ kết huyệt để xác định đâu là mạch thật. Điểm huyệt là bước sau đó, xác định vị trí chính xác để đặt huyệt trên long mạch đã tìm được. Hai bước này liên tiếp nhau, không tách rời.

Vì sao có sự khác biệt giữa ngũ tinh và cửu tinh khi nhận dạng núi?

Ngũ tinh là cách phân loại cơ bản theo năm hành: kim, mộc, thủy, hỏa, thổ. Cửu tinh là mở rộng thành chín dạng, thường gắn với truyền thống Dương Công. Các sách khác nhau có thể dùng hệ thống khác nhau, người học cần biết mình đang theo hệ nào để tránh nhầm lẫn.

Tả Ao sống vào thời nào?

Các nguồn không thống nhất. Có tài liệu dự đoán ông sinh khoảng năm 1442 thời Lê Sơ, nhưng cũng có tài liệu cho rằng ông sống vào đời vua Lê Hy Tông (1676-1705). Sự lệch nhau lên tới hai thế kỷ, và các sách mang tên ông cũng chưa chắc do một người viết.

Bài này thuộc chủ đề Phong thuỷ. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Phong thuỷ.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. Báo Quân đội nhân dân
  2. Báo Hà Tĩnh
  3. Phương pháp tầm Long Mạch
  4. Nhập môn loan đầu: tầm long điểm huyệt
#TầmLong#LongMạch#ThầyĐịaLý#TảAo#NgũTinh#CửuTinh#PhongThủy#ĐịaLýCổ