
TL;DR: Người xưa kiêng gọi thẳng tên húy của ông bà cha mẹ, nên khi cúng giỗ phải khấn rất khẽ tên tổ tiên, sợ người ngoài nghe thấy là bất kính. Tục kiêng tên trong gia đình từng được giữ ở nhiều vùng, đến đầu thế kỷ 21 hầu như không còn thấy ở đô thị. Về đặt tên con, Toan Ánh (2001) ghi cha mẹ phải kiêng không đặt tên của tổ tiên, nhưng các sách chỉ nói vắn tắt.
Vì sao khấn giỗ phải đọc khẽ tên tổ tiên?
Khi cúng giỗ, gia trưởng có khấn tới tên tổ tiên, nhưng theo Toan Ánh (2001), lời khấn ấy chỉ được đọc lâm râm thật nhỏ, vì nếu khấn to mà có người ngoài nghe được thì bị coi là phạm tội bất kính[1]. Gốc của lệ ấy là tục kiêng tên húy: người xưa quan niệm rằng để người ngoài nghe thấy tên của ông bà cha mẹ đã khuất là phạm tội bất kính. Toan Ánh (2001) còn cho hay con cháu cũng không được biết tên tổ tiên, vì sợ chúng nhắc tới hay bạ đâu nói đó mà phạm tội với các người, khiến cha mẹ mang điều bất hiếu[1].
Quan niệm dân gian giải thích việc khấn khẽ bằng sự kính sợ: tên của người đã khuất là thứ thiêng, chỉ được thốt ra trong không gian riêng của lễ cúng, không phải để người ngoài nghe. Cũng theo tinh thần đó, Toan Ánh (2001) cho rằng nếu con cháu làm điều gì không phải mà bị người khác réo tên ông bà cha mẹ đã khuất ra mà chì chiết, thì nỗi tủi hổ ấy rất lớn, có khi sinh ra thù oán sâu đậm[1]. Chính vì muốn người khác khỏi xúc phạm đến tổ tiên mình mà ai cũng giữ gìn trong điều ăn nếp ở, cố không gây ra bất cứ sự đụng chạm nào[1].
Cần nói rõ phạm vi: các sách phong tục được dẫn ở đây mô tả tập quán của người Kinh, chủ yếu ở đồng bằng Bắc Bộ, trong khoảng từ đầu đến cuối thế kỷ 20. Không có cơ sở để suy rộng ra cho Trung Bộ, Nam Bộ, các dân tộc khác, hay cho đời sống đô thị hôm nay khi sách không nói.
Kiêng tên trong đời sống thường ngày diễn ra thế nào?
Việc kiêng tên không gói gọn trong lúc cúng: trong lời ăn tiếng nói hằng ngày, con cháu phải gọi tránh những tiếng trùng với tên ông bà cha mẹ. Theo Toan Ánh (2001), hễ trong đời sống hằng ngày gặp tiếng nào trùng với tên của các bậc ấy, con cháu liền gọi tránh đi, hoặc kiếm một tiếng đồng nghĩa để thay vào[1]. Sách dẫn ra một loạt cách đọc chệch và gọi tránh: Hà Đông thành Hà Đương, thịt đồng thành thịt đặc, hoa thành bông, quả bưởi thành quả bồng, trái banh thành trái bóng[1].
Cách gọi tránh ấy về sau thành những từ quen thuộc trong tiếng Việt, và người nói thường không còn biết gốc kiêng tên của chúng. Đây là một dấu vết cho thấy tục kiêng tên đã ăn sâu vào ngôn ngữ đến mức nào.
Với tổ tiên đã khuất, theo Toan Ánh (2001), sự kiêng tên lại càng được giữ gìn hơn[1]. Đó là lý do vì sao lời khấn giỗ phải nhỏ, và vì sao tên của các cụ không được đem ra bàn tán ở chỗ đông người.
“Nhập gia vấn húy” và lời bình của Phan Kế Bính
“Nhập gia vấn húy” nghĩa là vào nhà ai thì phải hỏi tên húy của ông bà cha mẹ nhà ấy để mà kiêng, và tục này từng được nhiều người đòi hỏi cả với người ngoài. Phan Kế Bính (1915) chép trong Việt Nam phong tục: “Nhiều người tên cha mẹ mình, lại muốn cho người ta kiêng nữa, cho nên có chữ « Nhập gia vấn hủy » (vào đến nhà phải hỏi tên húy đề mà kiêng)”[2]. Ông cũng ghi rằng nhiều người khi được mừng hoặc phúng câu đối mà thấy có chữ phạm đến tên thì giận và xé câu đối đi, hoặc bắt người ta đổi; vì thế người cẩn thận, khi mừng hay phúng ai bằng câu đối, thường phải hỏi trước chủ nhà xem có chữ nào phạm húy để đổi đi mới dám viết[2].
Phan Kế Bính không chỉ thuật lại tục mà còn bình. Ông viết: “Còn cách kiêng tên, tuy là một lòng kính trọng, nhưng mà khi hẹp hòi”[2]. Theo lý lẽ ông nêu, tên chẳng qua là một tiếng để phân biệt người này với người khác, không kiêng cũng không hề gì; nếu đã quen theo thói tục thì nhà mình kiêng tên nhà mình là đủ, cớ sao lại bắt người khác kiêng thay cho nhà mình[2]. Ông còn lo rằng mỗi người mỗi kiêng, mỗi chữ mỗi đọc chạnh thì lâu dần sai lệch cả tiếng nói, không biết thế nào cho nhất định[2].
Lời bình ấy là ý kiến riêng của một trí thức Nho học đầu thế kỷ 20, đứng trên quan điểm cải lương, không phải kết luận của một công trình nghiên cứu thực địa. Nó có giá trị như một tư liệu về cách người đương thời nhìn tục lệ của chính mình.
Tên húy, tên tự, tên hiệu, tên cúng cơm khác nhau thế nào?
Một người Việt xưa có thể có nhiều loại tên, mỗi loại dùng trong một hoàn cảnh và do một người khác nhau đặt. Sự phân biệt này quan trọng vì lời khấn giỗ phải đọc đủ các loại tên, và mỗi loại lại có cách kiêng khác nhau.
| Loại tên | Ai đặt | Dùng khi nào | Sách ghi |
|---|---|---|---|
| Tên húy | Cha mẹ đặt khi sinh | Tên chính thức, kiêng không gọi thẳng | Dương Bá Trạc (1932) ghi trong khoản thức biên gia phả: mỗi vị phải biên “tên húy, tên tự tên hiệu”[3] |
| Tên tự | Người lớn đặt thêm | Dùng trong giao tiếp lịch sự | Dương Bá Trạc (1932), sách đã dẫn[3] |
| Tên hiệu | Người tự đặt hoặc người khác đặt | Dùng trong văn chương, xưng hô trang trọng | Dương Bá Trạc (1932), sách đã dẫn[3] |
| Tên thụy (tên hèm, tên cúng cơm) | Người sắp mất tự đặt, hoặc con cháu đặt thay | Dùng để khấn khi cúng cơm | Bùi Xuân Mỹ (2001) chép tục lệ xưa: con cháu hỏi xem người sắp trút hơi thở cuối cùng có tự đặt lấy tên thụy, còn gọi là tên hèm, tức là tên sau này dùng để khấn khi cúng cơm[4] |
Về phần Khoản thức biên gia phả trong Gia lễ giản yếu, Dương Bá Trạc (1932) căn dặn mỗi vị tổ tiên phải được ghi đủ trong gia phả, gồm: tên húy, tên tự, tên hiệu; ngày tháng năm sinh và ngày tháng năm mất; nghề nghiệp lúc sinh thời; đức tính tốt và sự nghiệp lớn; số con trai, con gái đã sinh hạ; và mỗi người con do bà đích, bà kế hay bà thứ sinh ra[3]. Việc ghi đủ ba loại tên cho thấy chúng không thay thế nhau mà cùng tồn tại trong một con người.
Về tên cúng cơm, Bùi Xuân Mỹ (2001) chép tục lệ xưa rằng con cháu phải hỏi người sắp trút hơi thở cuối cùng xem người ấy có tự đặt lấy tên thụy hay không; tên thụy, còn gọi là tên hèm, là tên sau này dùng để khấn khi cúng cơm, nên còn được gọi là tên cúng cơm[4]. Trường hợp người sắp qua đời mê man, không tự đặt tên cúng cơm cho mình được, thì con cháu tìm đặt tên rồi báo lại cho người ấy biết trong lúc hồi sinh ngắn ngủi[4].
Song Mai và Quỳnh Trang (tuyển soạn, 2006) chép cùng một nội dung, và thêm rằng tên thụy còn gọi là tên hèm, tức là tên sau này dùng để khấn khi cúng cơm[5]. Hai sách này trùng nhau ở đoạn này, nên chỉ nên coi là một nguồn tư liệu chứ không phải hai nguồn độc lập xác nhận lẫn nhau.
Lời Bùi Xuân Mỹ (2001) dặn về việc khấn giỗ là phải khấn đủ ba loại tên của những người hưởng giỗ: tên tục, tên hiệu và tên hèm; trong đó tên tục là tên lúc sống vẫn gọi, tên hiệu tức biệt hiệu, còn tên hèm tức tên phụng, tên do người hấp hối tự đặt cho mình để sau này con cháu khi cúng thì khấn tới[4]. Sách cũng căn dặn rằng khi khấn đến tên người chết, phải khấn lâm râm thật khẽ trong miệng, ấy là để tỏ lòng thành kính[4].
Đặt tên con: sách phong tục ghi những gì?
Một số sách phong tục có nhắc đến việc kiêng đặt tên con trùng tên tổ tiên, nhưng ghi rất vắn tắt. Toan Ánh (2001) viết: “Trước khi đặt tên cho các con, bố mẹ phải kiêng không được đặt tên của tổ tiên”[1]. Đó là điều duy nhất sách này nói trực tiếp về việc đặt tên con.
Về tục đặt tên xấu lúc nhỏ, Song Mai và Quỳnh Trang (tuyển soạn, 2006) chép: theo tục lệ xưa, trẻ mới sinh được gọi bằng tên xấu, lớn lên mới đặt tên có ý nghĩa; dụng ý đặt tên xấu là để tà ma khỏi để ý quấy phá[5]. Sách cũng cho biết tên thụy dùng khi cúng cơm[5].
Các sách không nói việc tránh trùng tên ông bà có phải là điều được cân nhắc trước nhất khi đặt tên con hay không.
Về tục đặt tên con theo ngũ hành và tuổi bố mẹ, đó là một đề tài khác, được xét riêng ở bài Đặt tên con theo ngũ hành và tuổi bố mẹ xét những gì?.
Tục kiêng tên nay còn ở đâu?
Toan Ánh (2001) ghi nhận rằng việc kiêng tên ngày nay không còn thấy ở các đô thị, nhưng tục cũ vẫn còn ở nhiều vùng quê. Theo ông, ở đô thị tục này đã không còn, còn nhiều vùng quê vẫn giữ[1].
Cần lưu ý rằng đây là nhận định của một tác giả viết năm 2001, dựa trên quan sát của chính ông, không phải kết quả của một cuộc điều tra có phương pháp. Không có số liệu nào cho biết tục còn mạnh ở vùng nào, tỉ lệ bao nhiêu, hay đã biến đổi ra sao sau năm 2001.
Điều có thể nói chắc là tục kiêng tên từng gắn với một quan niệm về sự thiêng của tên người đã khuất, và quan niệm ấy đã để lại dấu vết trong ngôn ngữ hằng ngày qua những từ gọi tránh như “bông”, “bồng”, “bóng”. Những từ ấy nay được dùng tự nhiên, không còn mang nghĩa kiêng cữ, nhưng chúng là chứng tích của một thời tục còn sống.
Kiêng húy tên vua và kiêng húy trong gia đình khác nhau chỗ nào?
Kiêng húy tên vua là quốc húy, do triều đình đặt ra và bắt cả nước theo, còn tục kiêng tên trong gia đình là chuyện riêng của từng nhà, không ai bắt buộc. Khi bàn về tục kiêng tên, Phan Kế Bính (1915) chỉ nói đến việc kiêng tên cha mẹ, không đả động tới quốc húy[2]. Toan Ánh (2001) cũng chỉ bàn trong phạm vi gia đình[1].
Sự phân biệt này quan trọng vì nó cho thấy tục kiêng tên trong gia đình không phải một thứ luật lệ cứng, mà là một tập quán có thể buông bỏ, và đã thực sự bị buông bỏ ở nhiều nơi. Chính Phan Kế Bính, ngay từ năm 1915, đã cho rằng kiêng tên là “hẹp hòi” và không cần thiết[2].
Kết luận: tục kiêng tên nói điều gì về người xưa?
Tục kiêng tên húy tổ tiên cho thấy người xưa đặt sự kính trọng người đã khuất lên trên sự tiện lợi của ngôn ngữ. Họ sẵn sàng đọc chệch, gọi tránh, thậm chí bắt người ngoài cũng phải hỏi tên húy trước khi nói chuyện với nhà mình. Đến đầu thế kỷ 20, tục ấy đã bị một số trí thức phê bình là quá tỉ mỉ. Đến đầu thế kỷ 21, nó hầu như chỉ còn ở nông thôn, và ngay ở đó cũng đang phai dần.
Điều còn lại là những từ ngữ gọi tránh đã nhập vào tiếng Việt mà người nói không còn biết gốc, và những câu chuyện về việc khấn khẽ tên ông bà trong ngày giỗ. Đó là cách một tục lệ sống lâu hơn chính cái lý do sinh ra nó.
