Nhật Nguyệt

Tri thức / Đông phương / Tử Vi Đẩu Số

Tử vi

Miếu Vượng Đắc Bình Hãm là gì và vì sao cùng một sao đặt ở cung khác lại luận ngược nhau?

Chia sẻ:
Miếu Vượng Đắc Bình Hãm là gì và vì sao cùng một sao đặt ở cung khác lại luận ngược nhau?
TL;DR: Miếu, Vượng, Đắc, Bình, Hãm là năm mức độ sáng (còn gọi là thế đứng hay đắc địa) gán cho mỗi sao khi nó đóng tại một cung trong lá số tử vi. Mức sáng càng cao thì ưu điểm của sao càng được khuếch đại và khuyết điểm bị ghìm lại, ngược lại ở Hãm thì sao cát mất lực, sao sát bung hết tính xấu. Vì mỗi sao chỉ "đắc địa" ở một số cung nhất định nên cùng một Thái Dương, Thất Sát hay Cự Môn, đặt ở cung này luận tốt mà sang cung khác lại luận xấu.

Miếu, Vượng, Đắc, Bình, Hãm là gì?

Miếu, Vượng, Đắc, Bình, Hãm là năm mức đánh giá độ sáng của một sao khi nó đóng tại một cung cụ thể trong lá số tử vi. Trên lá số, sau tên sao thường có ký hiệu (M), (V), (Đ), (B), (H) tương ứng. Cách gọi khác là thế đứng, đắc địa (được đất) hay thất địa (mất đất). Đây không phải thuộc tính cố định của sao, mà là thuộc tính của cặp sao và cung: Thái Dương ở Ngọ là Miếu, nhưng chính Thái Dương ấy ở Hợi lại Hãm.

Nguyên lý cốt lõi: mỗi sao có một "đất sống" riêng, và khi đứng đúng đất thì nguyên khí của sao lên cao, ưu điểm nở ra, khuyết điểm co lại. Sách Tử Vi Đẩu Số của Vũ Tài Lục và Thái Thứ Lang đều diễn giải theo hướng này: sao vào đất sống từ Đắc trở lên thì tính tốt được tăng, tính xấu bị hạn chế, đã cát càng cát, nếu hung thì đỡ hung hơn. Trong ghi chép tử vi 01, có thể kể ra thang đầy đủ gồm Miếu địa, Vượng địa, Đắc địa, Bình địa, Bại địa, Hãm địa; tức một số sách còn tách riêng mức Bại, đặt nó giữa Bình và Hãm.

Năm mức sáng khác nhau ở chỗ nào?

Theo cách trình bày phổ biến trên các trang tử vi tiếng Việt, năm mức được hiểu như sau:

  • Miếu (M): mức sáng cao nhất, sao được kích phát tính tốt tối đa. Cát tinh thì rất cát, hung tinh thì hung khí bị ghìm mạnh, thậm chí chuyển thành điềm tốt.
  • Vượng (V): mức sáng thứ hai. Cát tinh đại cát, hung tinh giảm hung rõ rệt và bắt đầu lộ mặt tốt.
  • Đắc (Đ): kém hơn Vượng. Cát tinh vẫn giữ được độ tốt, hung tinh vẫn mang tính xấu nhưng được giảm phần nào.
  • Bình (B): độ sáng mờ. Cát tinh chỉ còn chút tính cát, hung tinh bắt đầu bộc lộ tính hung.
  • Hãm (H): mờ nhất. Cát tinh bị giảm trừ tính tốt, tính chất có thể biến đổi; hung tinh thì bị kích phát tính xấu lên nhiều lần.

Cần lưu ý một điểm về thuật ngữ: "Miếu" ở đây không mang nghĩa đền miếu. Cách nói "nhập Miếu" là lối ví von, ý nói sao đạt trạng thái thịnh nhất, như được đặt vào chỗ tôn nghiêm nhất của nó.

Vì sao cùng một sao đặt ở cung khác lại luận ngược nhau?

Vì mỗi sao chỉ có một số cung là đất sống của nó, còn các cung còn lại là đất dữ. Khi đứng ở đất sống, sao phát huy đúng bản chất tốt; khi rơi vào đất dữ, chính bản chất ấy bị bẻ sang mặt trái. Đây là lý do cùng một ngôi sao, cùng một người, chỉ cần đổi cung là lời luận đã khác hẳn.

Ví dụ rõ nhất là Thái Dương. Thái Dương cư Ngọ thường cho tính cách mạnh mẽ, quyết đoán, dễ thành công và có uy tín; còn Thái Dương cư Dậu có thể khiến đương số khó thể hiện quyền uy, dễ bị lấn át, hay bất mãn với hoàn cảnh. Có cách luận cho rằng Thái Dương hãm địa gặp Khôi Việt, Xương Khúc, Khoa Quyền Lộc, Đào Hồng Hỉ vẫn có thể giàu sang danh vọng, nhưng kiểu "người không gặp thời", có tài mà khó thực hiện lý tưởng, dễ hỏng việc vì nóng vội.

Cát tinh và sát tinh đổi tính thế nào khi sáng hay tối?

Với cát tinh, mức sáng quyết định nó có đủ lực cát hóa hay không. Cát tinh đóng miếu vượng thì năng lượng phát huy tối đa, tác dụng cát hóa mạnh và rõ; đóng hãm địa thì yếu ớt, không đủ sức mang lại điều tốt, thậm chí bị hung tinh lấn át. Sách này cũng dẫn ý cổ: cát tinh miếu vượng gặp Hóa Kỵ thì trải qua vất vả vẫn có thể thành, còn chính tinh lạc hãm lại gặp Hóa Kỵ thì dễ thành đại họa.

Với sát tinh và hung tinh, chiều tác động ngược lại. Sách Tử Vi kinh nghiệm quyển hạ nêu nguyên tắc: bộ Hung tinh (Sát, Phá, Tham, Liêm) khi hãm lại cần Sát tinh đắc địa đi kèm; còn Tử, Phủ, Cơ, Nguyệt đắc địa gặp Sát tinh hãm thì vô ngại, nhưng đắc địa gặp Sát tinh đắc địa lại thành xấu vì hai bên ganh nhau, và nếu Tử Phủ Cơ Nguyệt hãm mà gặp Sát tinh đắc địa thì rất xấu, vì sát tinh lấn át tính tốt. Nói gọn: sát tinh chỉ phù hợp khi nó mạnh và đi cùng bộ hung tinh mạnh, chứ không phù hợp khi nó mạnh mà đứng cạnh cát tinh yếu.

Cự Môn: một sao, hai con người

Cự Môn là ví dụ kinh điển cho việc đắc địa hay hãm địa tạo ra hai chân dung trái ngược. Cự Môn đắc địa tại Dần, Mão, Thân, Dậu (nhập miếu) hay Tý, Tỵ, Ngọ, Hợi (vượng) thì người có đầu óc thông minh, tấm lòng nhân hậu, mưu lược sáng suốt, lời nói sắc bén đủ sức thuyết phục, thích hợp với nghề luật sư, ngoại giao, giáo viên, thẩm phán; Cự Môn đắc địa tại Tý, Ngọ còn được coi là văn võ kiêm toàn. Ngược lại, Cự Môn hãm địa tại Sửu, Thìn, Mùi, Tuất dễ thành lời điêu ngoa, lắm điều, gây thị phi; gặp thêm Kình Đà, Hỏa Linh thì dễ dẫn tới bệnh tật do tửu sắc, bị bạn bè phản bội.

Điều đáng chú ý là bản chất "hóa ám" của Cự Môn vẫn nằm đó trong cả hai trường hợp. Đắc địa không xóa gốc, nó chỉ chuyển hướng cái gốc ấy sang mặt có ích.

Vì sao Thái Dương và Thái Âm còn phải xét giờ sinh ngày hay đêm?

Vì hai sao này là biểu tượng của mặt trời và mặt trăng, nên độ sáng của chúng gắn trực tiếp với thời điểm trong ngày chứ không chỉ với cung. Thái Dương sáng nhất vào khoảng giữa trưa, nên Thái Dương cư Ngọ được gọi là Nhật Lệ Trung Thiên, mặt trời đứng giữa trưa, và được xem là nhập Miếu. Các cung Tỵ, Ngọ là vùng đất mạnh của Thái Dương; các cung Dậu, Tuất, Hợi, Tý là vùng hãm.

Thái Âm thì ngược lại, đắc địa và vượng địa về đêm. Thái Âm miếu vượng tại các cung Thân, Dậu, Tuất, Hợi, là những cung ứng với lúc trăng tròn sáng tỏ, cho sự dịu dàng, mềm mại và trí tuệ; tại Tý, Sửu thì ở mức vượng hoặc đắc, ứng với lúc trăng tròn đầy hoặc vừa tròn, cho tâm hồn nhạy cảm, giàu trắc ẩn, ngoại giao tốt và may mắn về tài lộc, nhất là đất đai nhà cửa. Có lời cảnh báo về thế Nhật Nguyệt lạc hãm: chẳng khác nào mặt trời cố mọc lúc đêm về, mặt trăng cố tỏa sáng khi ngày đến, cả hai đều trái lẽ tự nhiên nên dễ khiến tâm tư người gặp bất ổn.

Điểm này giải thích vì sao với Thái Dương và Thái Âm, người luận còn phải đối chiếu giờ sinh thuộc ban ngày hay ban đêm, chứ không chỉ tra bảng cung. Một lá số sinh ban đêm có Thái Dương hãm cung có thể bớt xấu hơn so với cùng vị trí ấy nhưng sinh ban ngày.

Chỗ sách Việt và sách Trung Hoa ghi khác nhau

Đây là phần ít được nói tới nhưng lại quan trọng khi tra cứu, vì hai bảng khác nhau sẽ cho hai lời luận khác nhau.

Theo thảo luận học thuật trên diễn đàn Lý số Việt Nam, Thất Sát tại Ngọ được sách tử vi Việt Nam ghi là miếu địa, còn tài liệu Trung Hoa thì chỗ ghi miếu, chỗ ghi vượng. Nếu xét thuần ngũ hành thì Thất Sát hành Kim đóng tại Ngọ thuộc Hỏa mạnh, rõ ràng không phải vị trí đẹp theo lý sinh khắc. Nhưng thực tế kinh nghiệm cho thấy Thất Sát tại Thân, Ngọ, Mùi, Tỵ lại là những vị trí mạnh nhất của sao này. Điều đó cho thấy bảng miếu vượng đắc hãm là kết quả đúc kết lâu dài của cổ nhân, không phải phép suy ra thuần túy từ ngũ hành.

Về số lượng mức, không phải sách nào cũng dùng đủ năm mức. Sách ghi chép tử vi 01 liệt kê sáu mức gồm cả Bại địa, tức có truyền thống chen thêm một nấc giữa Bình và Hãm. Một số tài liệu khác chỉ dùng bốn mức Miếu, Vượng, Đắc, Hãm và bỏ hẳn Bình. Vì vậy khi đối chiếu hai lá số từ hai phần mềm khác nhau, có thể gặp trường hợp một bên ghi Bình còn bên kia ghi Hãm cho cùng một sao tại cùng một cung. Khác biệt này là khác biệt quy ước, không phải sai sót.

Vài nhầm lẫn thường gặp khi tra bảng

Thứ nhất, nhầm giữa cung có tên trùng với khái niệm khác. "Thân" trong "Thiên Đồng cư Thân" có thể là cung Thân trong mười hai địa chi, cũng có thể là Thân cung trong Mệnh Thân. Hai thứ hoàn toàn khác nhau và cho hai mức sáng khác nhau. Trên diễn đàn Lý số Việt Nam từng có tranh luận đúng kiểu này: Thiên Đồng cư Thân (địa chi) được luận là Vượng địa theo hành Thủy, trong khi người hỏi lại nhầm sang Thân cung của Mệnh Thân.

Thứ hai, nhầm giữa bản chất sao và mức sáng. Một sao được xem là "tốt" theo truyền thuyết, ví dụ Thiên Đồng gắn với Văn Vương, vẫn có thể hãm địa ở một số cung, vì mức sáng nói về thế đứng của sao tại cung, không nói về đạo đức của nhân vật gắn với sao.

Thứ ba, tuyệt đối hóa mức sáng. Miếu không có nghĩa là mọi chuyện đều tốt, Hãm không có nghĩa là mọi chuyện đều xấu. Phải xét toàn cảnh: cung vị, tương tác với sao khác, và bối cảnh cụ thể của lá số. Cùng một sao Hãm, gặp Tuần Triệt hay gặp Tứ Hóa có thể cho kết quả rất khác nhau.

Tra mức sáng của 14 chính tinh

Phần tra cứu chi tiết theo từng sao và từng cung được trình bày trong bảng tra ở cuối bài, dựng trực tiếp từ dữ liệu mức sáng mà lõi tính của site in lên lá số. Bảng đó là nguồn đối chiếu chính thức cho bài này. Khi thấy chênh lệch với bảng của sách giấy, nên xem đó là khác biệt quy ước giữa các phái, và ghi nhận cả hai thay vì chọn một cách máy móc.

Bảng miếu, vượng, đắc, bình, hãm của 14 chính tinh

Bảng dưới là đúng bảng mà tiện ích lập lá số Tử Vi của Nhật Nguyệt dùng khi ghi mức sáng tối cho từng sao. Chữ viết tắt: M là Miếu, V là Vượng, Đ là Đắc, B là Bình, H là Hãm. Sách Việt và sách Trung Hoa ghi khác nhau ở một số ô; bảng này theo lối phổ biến ở Việt Nam.

SaoTýSửuDầnMãoThìnTỵNgọMùiThânDậuTuấtHợi
Tử ViBĐMBVMMĐMBVB
Thiên CơĐĐHMMVĐĐVMMH
Thái DươngHĐVVVMMĐHHHH
Vũ KhúcVMVĐMHVMVĐMH
Thiên ĐồngVHMĐHĐHHMHHĐ
Liêm TrinhVĐVHMHVĐVHMH
Thiên PhủMBMBVĐMĐMBVĐ
Thái ÂmVĐHHHHHĐVMMM
Tham LangHMĐHVHHMĐHVH
Cự MônVHVMHHVHĐMHĐ
Thiên TướngVĐMHVĐVĐMHVĐ
Thiên LươngĐĐVVMHMĐVHMH
Thất SátMĐMHHVMĐMHHH
Phá QuânMVHHVHMVHHVH

Nội dung này có giúp được bạn không?

Câu hỏi thường gặp

Miếu, Vượng, Đắc, Bình, Hãm khác nhau ở điểm nào?

Miếu là mức sáng cao nhất, sao phát huy tính tốt tối đa; Vượng thấp hơn một bậc; Đắc thấp hơn Vượng; Bình là mức mờ, cát tinh chỉ còn chút tốt còn hung tinh bắt đầu lộ hung; Hãm là mức mờ nhất, cát tinh mất lực còn hung tinh bị kích xấu lên nhiều lần. Một số sách còn chèn thêm mức Bại giữa Bình và Hãm.

Vì sao cùng một sao ở cung này luận tốt mà cung khác lại luận xấu?

Vì mỗi sao chỉ có một số cung là đất sống của nó. Khi đứng đúng đất, ưu điểm nở ra và khuyết điểm co lại; khi rơi vào đất dữ, chính bản chất ấy bị bẻ sang mặt trái. Ví dụ Thái Dương cư Ngọ mạnh mẽ quyết đoán, còn Thái Dương cư Dậu dễ bị lấn át, khó thể hiện quyền uy.

Vì sao Thái Dương và Thái Âm còn phải xét giờ sinh ngày hay đêm?

Vì hai sao này tượng trưng cho mặt trời và mặt trăng nên độ sáng gắn với thời điểm trong ngày. Thái Dương sáng nhất giữa trưa, nên cư Ngọ được gọi là Nhật Lệ Trung Thiên và xem là nhập Miếu. Thái Âm lại đắc địa và vượng địa về đêm, mạnh ở các cung Thân, Dậu, Tuất, Hợi. Vì vậy cùng một cung, người sinh ban ngày và ban đêm có thể được luận khác nhau.

Bài này thuộc chủ đề Tử Vi Đẩu Số. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Tử Vi Đẩu Số.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. HOROS: Miếu, Vượng, Đắc, Bình, Hãm là gì?
  2. Lý số Việt Nam: Bàn về Miếu, Đắc, Vượng, Hãm địa và Bình
  3. Tử Vi kinh nghiệm quyển hạ
  4. ghi chép tử vi 01
#TửVi#MiếuVượngĐắcHãm#ĐộSángCủaSao#14ChínhTinh#ĐắcĐịa#TháiDươngTháiÂm