
TL;DR: An 14 chính tinh là bước thứ hai sau khi đã dựng xong 12 cung và định được ngũ hành cục của cung Mệnh. Từ cục và ngày sinh âm lịch, ta tra ra cung Tử Vi; rồi theo lời quyết trong Tử Vi đẩu số toàn thư, chòm Tử Vi (Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh) đi nghịch, còn chòm Thiên Phủ (Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân) đi thuận. Đây là quy ước của môn Tử Vi Đẩu Số, không phải kết luận khoa học về vận mệnh con người.
An 14 chính tinh là gì và nằm ở bước nào trong lá số?
An 14 chính tinh là bước gán 14 sao chính (Tử Vi, Thiên Cơ, Thái Dương, Vũ Khúc, Thiên Đồng, Liêm Trinh, Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, Phá Quân) vào 12 cung của lá số, sau khi đã dựng 12 cung và định được ngũ hành cục. Đây là bước quyết định khung xương của lá số, vì phần luận giải về sau xét trước hết chính tinh của từng cung.
Tử Vi đẩu số toàn thư quyển 2 mở đầu bằng phép an cung Mệnh và cung Thân theo tháng sinh và giờ sinh, rồi lấy nạp âm của can chi cung Mệnh làm cục, và từ cục cùng ngày sinh mới khởi sao Tử Vi[1]. Trong đó bước định cục là điều kiện bắt buộc, vì cung Tử Vi phụ thuộc trực tiếp vào cục và ngày sinh âm lịch.
Ngũ hành cục được định như thế nào?
Ngũ hành cục là ngũ hành nạp âm của can chi cung Mệnh, và số cục (2, 3, 4, 5, 6) tương ứng với hành đó. Có một cách tính nhanh thường dùng: gán số cho thiên can (Giáp Ất 1, Bính Đinh 2, Mậu Kỷ 3, Canh Tân 4, Nhâm Quý 5), gán số cho địa chi (Tý Sửu Ngọ Mùi 1, Dần Mão Thân Dậu 2, Thìn Tị Tuất Hợi 3), cộng hai số lại, nếu lớn hơn 5 thì trừ 5, rồi tra bảng: 1 Mộc, 2 Kim, 3 Thủy, 4 Hỏa, 5 Thổ.
Ví dụ: cung Mệnh can chi là Nhâm Thìn. Nhâm là 5, Thìn là 3, tổng 8, trừ 5 còn 3, ứng Thủy, vậy là Thủy nhị cục. Cục vừa cho biết hành, vừa cho biết con số dùng để chia ngày sinh ở bước sau.
Cần lưu ý: ngũ hành cục ở đây là nạp âm của can chi cung Mệnh, không phải nạp âm năm sinh. Đây là điểm dễ nhầm khi tự lập lá số bằng tay.
Tìm cung Tử Vi theo cục và ngày sinh như thế nào?
Tìm cung Tử Vi là lấy ngày sinh âm lịch chia cho số cục, rồi dùng thương số và số dư để xác định địa chi cung Tử Vi. Phép tính thường dùng, cũng là phép lõi tính của Nhật Nguyệt dùng: lấy ngày sinh chia cho số cục, thương số đếm theo thứ tự Dần 1, Mão 2, Thìn 3, Tị 4, Ngọ 5, Mùi 6, Thân 7, Dậu 8, Tuất 9, Hợi 10, Tý 11, Sửu 12; nếu chia không hết thì thêm một số nhỏ nhất để chia hết, số thêm là số lẻ thì lùi, số thêm là số chẵn thì tiến.
Ba ví dụ:
- Thủy nhị cục, sinh ngày 28: 28 chia 2 được 14, 14 lớn hơn 12 nên trừ 12 còn 2, ứng Mão, Tử Vi an tại Mão.
- Mộc tam cục, sinh ngày 25: 25 không chia hết cho 3, thêm 2 thành 27, chia 3 được 9, ứng Tuất; số thêm 2 là chẵn nên tiến 2 cung (không tính cung Tuất), tới Tý, Tử Vi an tại Tý.
- Hỏa lục cục, sinh ngày 15: thêm 3 thành 18, chia 6 được 3, ứng Thìn; số thêm 3 là lẻ nên lùi 3 cung (không tính Thìn), tới Sửu, Tử Vi an tại Sửu.
Tử Vi đẩu số toàn thư quyển 2 không chép phép chia mà in sẵn năm đồ hình, mỗi cục một hình, ghi ngày sinh nào thì Tử Vi ở cung nào; sách nêu ví dụ người Hỏa lục cục sinh mùng 1 thì khởi Tử Vi ở cung Dậu[1]. Bảng dưới đây là năm ngày đầu của mỗi cục, tính theo phép chia ở trên:
| Cục | Ngày 1 | Ngày 2 | Ngày 3 | Ngày 4 | Ngày 5 |
|---|---|---|---|---|---|
| Thủy nhị cục | Sửu | Dần | Dần | Mão | Mão |
| Mộc tam cục | Thìn | Sửu | Dần | Tị | Dần |
| Kim tứ cục | Hợi | Thìn | Sửu | Dần | Tý |
| Thổ ngũ cục | Ngọ | Hợi | Thìn | Sửu | Dần |
| Hỏa lục cục | Dậu | Ngọ | Hợi | Thìn | Sửu |
Chòm Tử Vi đi nghịch và chòm Thiên Phủ đi thuận ra sao?
Sau khi có cung Tử Vi, ta an 6 sao thuộc chòm Tử Vi theo chiều nghịch, rồi an 8 sao thuộc chòm Thiên Phủ theo chiều thuận. Tử Vi đẩu số toàn thư quyển 2 chép lời quyết chòm Tử Vi: 紫微天机逆行旁,隔一阳武天同当,又隔二位廉贞地,空三复见紫微郎[1]. Nghĩa là: sau Tử Vi, nghịch một cung an Thiên Cơ, cách một cung an Thái Dương, nghịch tiếp một cung an Vũ Khúc, nghịch tiếp một cung an Thiên Đồng, cách hai cung an Liêm Trinh, cách ba cung lại gặp Tử Vi.
Chòm Thiên Phủ cần tìm cung Thiên Phủ trước. Đồ hình an Thiên Phủ trong sách ghi: chỉ ở Dần và Thân thì Tử Vi và Thiên Phủ đồng cung, ở các cung còn lại hai sao đối nhau qua trục Dần Thân, ví dụ Tử Vi ở Sửu thì Thiên Phủ ở Mão[1]. Khi đã có Thiên Phủ, lời quyết chòm Thiên Phủ là 天府太阴与贪狼,巨门天相及天梁,七杀空三破军位,八星顺数细推详[1], tức: Thiên Phủ, Thái Âm, Tham Lang, Cự Môn, Thiên Tướng, Thiên Lương, Thất Sát, rồi cách ba cung, đến cung thứ tư an Phá Quân.
Bảng dưới đây tóm tắt vị trí tương đối của 14 chính tinh theo cung Tử Vi, dựa trên hai lời quyết trên:
| Sao | Chòm | Vị trí | Khi Tử Vi ở Ngọ |
|---|---|---|---|
| Tử Vi | Chòm Tử Vi | sao đầu chòm | Ngọ |
| Thiên Cơ | Chòm Tử Vi | nghịch 1 cung từ Tử Vi | Tị |
| Thái Dương | Chòm Tử Vi | nghịch 3 cung từ Tử Vi | Mão |
| Vũ Khúc | Chòm Tử Vi | nghịch 4 cung từ Tử Vi | Dần |
| Thiên Đồng | Chòm Tử Vi | nghịch 5 cung từ Tử Vi | Sửu |
| Liêm Trinh | Chòm Tử Vi | nghịch 8 cung từ Tử Vi | Tuất |
| Thiên Phủ | Chòm Thiên Phủ | sao đầu chòm | Tuất |
| Thái Âm | Chòm Thiên Phủ | thuận 1 cung từ Thiên Phủ | Hợi |
| Tham Lang | Chòm Thiên Phủ | thuận 2 cung từ Thiên Phủ | Tý |
| Cự Môn | Chòm Thiên Phủ | thuận 3 cung từ Thiên Phủ | Sửu |
| Thiên Tướng | Chòm Thiên Phủ | thuận 4 cung từ Thiên Phủ | Dần |
| Thiên Lương | Chòm Thiên Phủ | thuận 5 cung từ Thiên Phủ | Mão |
| Thất Sát | Chòm Thiên Phủ | thuận 6 cung từ Thiên Phủ | Thìn |
| Phá Quân | Chòm Thiên Phủ | thuận 10 cung từ Thiên Phủ | Thân |
Cách nhớ: năm sao sau của chòm Tử Vi cách Tử Vi 1, 3, 4, 5, 8 cung theo chiều nghịch; bảy sao sau của chòm Thiên Phủ cách Thiên Phủ 1, 2, 3, 4, 5, 6, 10 cung theo chiều thuận, giữa Thất Sát và Phá Quân trống ba cung. Ví dụ ở cột cuối đổi theo cung Tử Vi: vị trí tuyệt đối của từng sao thay đổi theo cung Tử Vi, nhưng thứ tự tương đối giữa các sao trong cùng một chòm thì cố định. Người lập số chỉ cần nhớ hai câu quyết là đủ an được toàn bộ 14 chính tinh.
Vì sao chòm Tử Vi đi nghịch còn chòm Thiên Phủ đi thuận?
Tử Vi đẩu số toàn thư không giải thích lý do. Lời quyết chỉ ghi chiều đi: chòm Tử Vi 逆行 (đi nghịch), chòm Thiên Phủ 八星顺数 (tám sao đếm thuận)[1].
Vì hai chòm an theo hai chiều, một cung có thể có hai chính tinh, một chính tinh, hoặc không có chính tinh nào (cung vô chính diệu). Đây là quy ước kỹ thuật của môn, không phải hiện tượng thiên văn có thể kiểm chứng bằng quan sát bầu trời.
Có phải mọi sách đều an giống nhau?
Ở bước này thì giống nhau. Lời quyết an hai chòm, đồ hình an Thiên Phủ và năm đồ hình khởi Tử Vi theo cục trong Tử Vi đẩu số toàn thư quyển 2[1] là phép an 14 chính tinh mà lõi tính của Nhật Nguyệt dùng; phép chia ngày sinh cho số cục chỉ là cách tính ra cùng kết quả ấy.
Tên cục trong sách là 水二局, 木三局, 金四局, 土五局, 火六局[1], đọc theo âm Hán Việt là Thủy nhị cục, Mộc tam cục, Kim tứ cục, Thổ ngũ cục, Hỏa lục cục.
An 14 chính tinh có phải là dự đoán vận mệnh?
Không. An 14 chính tinh chỉ là bước gán vị trí sao theo quy ước của môn Tử Vi Đẩu Số. Bản thân việc an sao không nói gì về tính cách hay vận mệnh của người có lá số. Việc luận giải sau đó mới là phần diễn giải, và mọi diễn giải đều thuộc phạm vi quan niệm của môn, không phải kết luận khoa học.
Gợi ý của Nhật Nguyệt khi tự an 14 chính tinh
Gợi ý của Nhật Nguyệt: nếu bạn tự lập lá số bằng tay, hãy làm theo thứ tự bốn bước. Một, xác định ngày sinh âm lịch và giờ sinh. Hai, an 12 cung và định cung Mệnh. Ba, tính ngũ hành cục từ can chi cung Mệnh. Bốn, tra cung Tử Vi rồi an hai chòm theo đúng chiều. Khi tra bảng, nên đối chiếu ít nhất hai nguồn vì một số bảng in có thể sai sót. Nếu kết quả khác nhau, hãy kiểm tra lại bước tính cục trước, vì sai cục sẽ kéo theo sai toàn bộ 14 chính tinh.
Câu hỏi thường gặp
Ngày sinh âm lịch hay dương lịch dùng để an Tử Vi?
Dùng ngày sinh âm lịch. Phép an lấy ngày sinh âm lịch chia cho số cục, thương số đếm theo thứ tự Dần 1 đến Sửu 12. Nếu bạn chỉ có ngày dương lịch, cần đổi sang âm lịch trước khi an sao.
Nếu chia không hết thì làm thế nào?
Thêm một số nhỏ nhất để chia hết. Số thêm là số lẻ thì lùi, số thêm là số chẵn thì tiến, không tính cung gốc. Ví dụ Mộc tam cục ngày 25, thêm 2 (chẵn) nên tiến 2 cung từ Tuất tới Tý.
Có thể an 14 chính tinh mà không cần biết cục không?
Không. Cục là điều kiện để tra cung Tử Vi. Phép an lấy ngày sinh chia cho số cục. Không có cục thì không có thương số, không xác định được cung Tử Vi, và do đó không an được 14 chính tinh.
