Tri thức / Đông phương / Tử Vi Đẩu Số

Tử vi

Sinh tháng nhuận, giờ Tý thì lập lá số Tử Vi theo tháng nào, ngày nào?

Thuật số truyền thống Hệ diễn giải cổ.

Sinh tháng nhuận, giờ Tý thì lập lá số Tử Vi theo tháng nào, ngày nào?

TL;DR: Người sinh tháng nhuận, giờ Tý lập lá số Tử Vi theo tháng nào, ngày nào thì các sách nói khác nhau. Tử Vi tổng hợp (Nguyễn Phát Lộc) an theo đúng số tháng và coi việc đôn lên một tháng là sai; Tử Vi đẩu số tinh thành lấy tháng sau; Từ Tăng Sinh ghi cách chia đôi ở ngày 15. Với giờ Tý, Tử Vi đẩu số tinh thành đổi ngày lúc nửa đêm, còn Tử Vi tổng hợp viết ngày bắt đầu từ giờ Tý. Tiện ích Tử Vi của Nhật Nguyệt giữ nguyên số tháng nhuận và lấy đúng ngày dương đã nhập.

Vì sao tháng nhuận và giờ Tý lại là chỗ khó của lá số Tử Vi?

Bài này đối chiếu hai sách Tử Vi Việt Nam là Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang và Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc với hai sách dịch từ Trung văn là Tử Vi đẩu số tinh thành và Tử vi đẩu số Mệnh vận phân tích của Từ Tăng Sinh. Tử Vi Đẩu Số an sao theo Âm lịch. Từ Tăng Sinh viết rằng Tứ Trụ và Chiêm tinh phương Tây đều áp dụng Thái Dương lịch, duy chỉ Tử Vi Đẩu Số áp dụng Thái Âm lịch[4]. Vì bám vào lịch Mặt Trăng nên môn này phải xử lý hai chỗ: tháng nhuận, và ngày của người sinh giờ Tý.

Tháng nhuận sinh ra để bù chênh lệch giữa năm Mặt Trăng và năm Mặt Trời: cứ 19 năm âm dương lịch đặt 7 tháng nhuận, con số mà lời chú của người dịch sách Từ Tăng Sinh cũng nhắc[4]. Tháng nhuận mang lại số của tháng đứng trước nó, nên khi an sao theo tháng sinh, người lập số phải quyết định coi tháng ấy là tháng nào. Mọi tranh cãi bắt đầu từ đây.

Giờ Tý cũng vậy. Giờ Tý kéo dài từ 23 giờ hôm trước đến 1 giờ hôm sau, tức nó nằm vắt qua ranh giới ngày. Sách Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang định nghĩa giờ Tý là khoảng từ 23 giờ đến 1 giờ. Nhưng ngày sinh thì chỉ có một, nên câu hỏi đặt ra là: người sinh lúc 23 giờ 30 ngày mùng 5 thì tính là ngày mùng 5 hay mùng 6? Hai cách trả lời cho ra hai ngày sinh khác nhau, kéo theo toàn bộ can chi ngày và các sao an theo ngày đều đổi.

Các sách nói gì về tháng nhuận?

Tử Vi đẩu số tân biên và cách đếm tháng để an cung

Sách Tử Vi đẩu số tân biên của Vân Đằng Thái Thứ Lang trình bày quy trình an cung Mệnh và cung Thân bằng cách đếm theo tháng sinh[1]. Cách làm cụ thể: lấy cung Dần làm mốc tháng Giêng, đếm thuận theo tháng sinh, dừng ở cung nào thì cung đó được gọi là "giờ Tý"; kể từ cung ấy, đếm nghịch đến giờ sinh để an Mệnh, đếm thuận đến giờ sinh để an Thân. Sách cũng lưu ý cung Thân chỉ có thể rơi vào sáu cung cố định gồm Mệnh Viên, Phúc Đức, Quan Lộc, Thiên Di, Tài Bạch, Thê Thiếp hoặc Phu Quân; nếu an Thân lạc vào cung khác thì đã nhầm, cần soát lại.

Với tháng nhuận, sách này không dành một mục riêng để bàn, nhưng toàn bộ cách đếm tháng đều dựa trên giả định mỗi năm có đúng mười hai tháng ứng với mười hai chi từ Dần đến Sửu. Điều đó có nghĩa tháng nhuận phải được quy về một trong mười hai vị trí ấy.

Hai cách của Tử Vi đẩu số tinh thành

Tử Vi đẩu số tinh thành (紫微斗数精成), một sách Trung văn có bản dịch tiếng Việt, nêu hai cách xử lý tháng nhuận. Cách thứ nhất dùng khi lập lá số: gặp người sinh tháng nhuận thì lấy tháng sau. Sinh tháng Giêng nhuận thì tính theo tháng Hai, sinh tháng Năm nhuận thì tính theo tháng Sáu[3]. Hệ quả là một tháng bị trùng: người sinh tháng Giêng nhuận và người sinh tháng Hai cùng an sao theo tháng Hai[3].

Cách thứ hai sách dành cho việc tính Đẩu Quân lưu nguyệt: chia tháng nhuận làm đôi, từ mùng 1 đến giờ Hợi ngày 15 quy về tháng trước, từ ngày 16 đến hết tháng quy về tháng sau[3]. Sách ghi có lưu phái dùng cả cách này để lập lá số. Về lựa chọn của tác giả thì hai bản không khớp nhau: bản dịch tiếng Việt ghi tác giả cho cách thứ nhất hợp lý hơn, còn câu chữ Hán in kèm nói khi cách thứ nhất không khớp thực tế thì có thể thử cách thứ hai[3].

Tử Vi tổng hợp và cách nhìn khác

Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc nói ngược lại. Khi kể các yếu tố của một lá số, sách viết: "Những tháng nhuận ta không kể vì lá số Tử-Vi cứ an theo tháng, bất luận tháng thường hay tháng nhuận"[2]. Ở mục những sai lầm khi lấy lá số, sách còn kể đích danh lối tính sang tháng sau: "Có người sinh vào tháng nhuận, rồi cứ đôn lên 1 tháng, làm sai lạc tháng sinh"[2].

Như vậy có ba lối: giữ nguyên số tháng (Tử Vi tổng hợp), tính sang tháng sau (cách thứ nhất của Tử Vi đẩu số tinh thành), và chia đôi ở ngày 15 (cách thứ hai của sách ấy, cũng là cách Từ Tăng Sinh nói là phổ biến). Cả ba đều là quy ước của sách, không phải kết quả tính của lịch pháp. Tiện ích lập lá số Tử Vi của Nhật Nguyệt theo lối thứ nhất: sinh tháng Tư nhuận thì an theo tháng Tư.

Sinh tháng nhuận thì lập lá số theo tháng nào?

Không có một câu trả lời chung; tùy sách mà người sinh tháng nhuận được an theo chính số tháng ấy, theo tháng sau, hoặc theo tháng trước hay tháng sau tùy sinh trước hay sau ngày 15.

Lấy ví dụ một người sinh ngày 10 tháng Tư nhuận. Đếm từ Dần là tháng Giêng thì tháng Tư ứng với cung Tỵ, tháng Năm ứng với cung Ngọ. Theo Tử Vi tổng hợp, người này an theo tháng Tư, lấy cung Tỵ làm chỗ khởi giờ Tý[2]. Theo cách thứ nhất của Tử Vi đẩu số tinh thành, người này an theo tháng Năm, khởi từ cung Ngọ[3]. Theo lối chia đôi, vì sinh trước ngày 15 nên vẫn an theo tháng Tư. Từ cung khởi ấy đếm nghịch đến giờ sinh để an Mệnh, đếm thuận để an Thân, nên hai lối cho hai cung Mệnh cách nhau đúng một cung.

Sách Tử Vi đẩu số tân biên quy định Tả Phụ khởi từ cung Thìn kể là tháng Giêng rồi đếm thuận đến tháng sinh, còn Hữu Bật khởi từ cung Tuất kể là tháng Giêng rồi đếm nghịch đến tháng sinh[1]. Như vậy chỉ cần đổi tháng nhuận sang tháng thường thì toàn bộ các sao an theo tháng đều dịch chuyển theo một cách nhất quán.

Khác nhau một tháng kéo theo cung Mệnh, cung Thân, cục và mọi sao an theo tháng đều đổi, nên hai người cùng ngày sinh tháng nhuận, lập số theo hai sách, sẽ ra hai lá số khác nhau.

Sinh giờ Tý thì tính ngày nào?

Với giờ Tý, Tử Vi đẩu số tinh thành nêu mốc cụ thể: trong cùng một ngày, khoảng từ 0h01 đến 1h và từ 23h01 đến 24h đều thuộc giờ Tý của ngày hôm đó[3]. Người sinh trước 12 giờ đêm vẫn tính là giờ Tý tối của ngày cũ, qua 12 giờ đêm mới là giờ Tý sớm của ngày mới[3].

Nói cách khác, theo sách này ngày đổi lúc nửa đêm chứ không đổi lúc 23 giờ. Người sinh lúc 23 giờ 30 ngày mùng 5 vẫn thuộc ngày mùng 5 dù đã vào giờ Tý; người sinh lúc 0 giờ 30 thuộc ngày mùng 6. Giờ Tý vì thế bị tách làm hai nửa thuộc hai ngày. Tiện ích lập lá số Tử Vi của Nhật Nguyệt cũng làm như vậy: lá số lấy ngày âm của đúng ngày dương đã nhập, kể cả khi sinh từ 23 giờ tới 0 giờ.

Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc nói theo hướng khác. Trong mục những sai lầm khi lấy lá số, sách viết: "Ví dụ như sinh vào 1 giờ rưỡi đêm 18 rạng 19 thì phải lấy ngày 19 làm ngày sinh, vì ngày 19 bắt đầu từ giờ Tý"[2]. Ví dụ của sách là giờ Sửu, sau nửa đêm, nên chưa chạm tới khoảng 23 giờ tới 0 giờ; nhưng nếu ngày bắt đầu từ giờ Tý, tức từ 23 giờ, thì người sinh lúc 23 giờ 30 đã thuộc ngày hôm sau. Sách không nói thẳng trường hợp này.

Tình huống sinhTử Vi đẩu số tinh thànhTử Vi tổng hợp
23h01 đến 24h ngày mùng 5Thuộc ngày mùng 5, giờ Tý tối[3]Sách không nêu riêng; theo câu "ngày bắt đầu từ giờ Tý" thì đã sang mùng 6[2]
0h01 đến 1h ngày mùng 6Thuộc ngày mùng 6, giờ Tý sớm[3]Thuộc ngày mùng 6
1h30 đêm 18 rạng 19Thuộc ngày 19Thuộc ngày 19[2]

Chỉ khoảng từ 23 giờ đến 0 giờ là chỗ hai lối tính cho hai ngày khác nhau. Tiện ích Bát Tự của Nhật Nguyệt đổi ngày từ 23 giờ, theo cách của phần lớn sách Tử Bình, nên với người sinh trong khoảng này, lá số Tử Vi và lá số Bát Tự của Nhật Nguyệt có thể ra hai ngày khác nhau; muốn lá số Tử Vi theo lối đổi ngày từ đầu giờ Tý thì nhập ngày hôm sau.

Vì sao các sách không thống nhất?

Lý do sâu xa nằm ở chỗ Tử Vi Đẩu Số không có một văn bản chuẩn duy nhất về lịch pháp. Sách Tử vi đẩu số Mệnh vận phân tích của Từ Tăng Sinh nhận xét thẳng: vấn đề tháng nhuận tạo thành những phiền nhiễu ghê gớm, và rốt cuộc người sinh tháng nhuận phải tính thuộc tháng trước hay tháng sau thì mỗi người nói một phách, chưa có ai đưa ra bộ lý do khiến người khác hoàn toàn tín phục. Sách này ghi nhận cách phổ biến trong giới Tử Vi Đẩu Số là lấy ngày 15 của tháng nhuận làm điểm ranh giới, trước ngày 15 tính theo tháng trước, sau ngày 15 tính theo tháng sau. Như vậy, ngay trong một cuốn sách, ta đã thấy một quy tắc khác với quy tắc "lấy tháng sau" của Đẩu số tinh thành.

Cũng cần lưu ý rằng quy tắc lấy ngày 15 làm mốc chia tháng nhuận mà Từ Tăng Sinh nhắc tới lại giống với cách thứ hai trong Đẩu số tinh thành, vốn được sách này dành cho việc tính Đẩu Quân lưu nguyệt chứ không phải để lập mệnh bàn[3]. Việc một quy tắc được dùng cho mục đích này ở sách nọ lại được dùng cho mục đích khác ở sách kia cho thấy mức độ tùy nghi của vấn đề.

Hệ quả là, khi lập lá số cho người sinh tháng nhuận, người lập số cần nói rõ mình đang theo quy ước nào. Cùng một người, nếu tính tháng nhuận thành tháng sau thì cung Mệnh có thể lệch một cung so với khi tính theo tháng gốc, kéo theo toàn bộ mười hai cung và hàng loạt sao an theo tháng đều lệch. Đây không phải sai số nhỏ mà là khác biệt về cấu trúc lá số.

Những sai sót khác cần kiểm tra trước khi an sao

Sách Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc liệt kê một loạt nguyên nhân khiến lá số bị lệch, đáng chú ý là vấn đề giờ sinh. Sách nêu rằng giờ Việt Nam từ năm 1943 đã bị thay đổi nhiều lần, trồi sụt tới sáu lần, có lần lệch đến hai tiếng đồng hồ, nên người lập số cần bù trừ. Đây là điểm rất thực tế: một người khai sinh giờ Tý theo đồng hồ đeo tay có thể thực ra sinh vào giờ Hợi hoặc giờ Sửu theo giờ mặt trời, nếu không tính đến việc đổi múi giờ.

Sách cũng nêu các trường hợp khác như sinh đúng ranh giới hai giờ âm lịch kế tiếp, ví dụ 1 giờ trưa là ranh giới giữa giờ Ngọ và giờ Mùi; người khai sinh trễ rồi lâu dần quên ngày sinh thật, lấy ngày khai sinh làm ngày sinh; và cả việc an sao trật. Với người sinh tháng nhuận, sách ghi nhận có người cứ đôn lên một tháng, làm sai lạc tháng sinh.

Với người sinh giờ Tý, việc kiểm tra càng cần vì giờ Tý nằm sát ranh giới ngày: phải biết người đó sinh trước hay sau nửa đêm, và lá số đang lập theo lối đổi ngày nào.

Tóm lại các sách nói gì?

Không có câu trả lời duy nhất cho cả hai câu hỏi. Với tháng nhuận, Tử Vi tổng hợp giữ nguyên số tháng và coi việc đôn lên một tháng là sai[2]; Tử Vi đẩu số tinh thành lấy tháng sau[3]; Từ Tăng Sinh ghi cách chia đôi ở ngày 15 là cách phổ biến và nhận rằng chưa ai đưa ra lý do đủ thuyết phục[4]. Với giờ Tý, Tử Vi đẩu số tinh thành đổi ngày lúc nửa đêm[3], còn Tử Vi tổng hợp viết ngày bắt đầu từ giờ Tý[2].

Gợi ý của Nhật Nguyệt: khi lập lá số cho người sinh tháng nhuận hoặc sinh từ 23 giờ tới 0 giờ, hãy ghi rõ lá số theo lối nào, và khi so hai lá số của cùng một người thì lập cả hai theo cùng một lối. Tiện ích của Nhật Nguyệt giữ nguyên số tháng nhuận và lấy đúng ngày đã nhập; muốn xem theo lối khác thì nhập một ngày dương ứng với tháng âm hoặc ngày âm của lối ấy.

Nội dung này có giúp được anh chị không?

Chia sẻ:

Câu hỏi thường gặp

Sinh tháng nhuận thì lập lá số Tử Vi theo tháng nhuận hay tháng kế tiếp?

Tùy sách. Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc an theo đúng số tháng, bất luận tháng thường hay tháng nhuận, và coi việc đôn lên một tháng là sai. Tử Vi đẩu số tinh thành lấy tháng sau, ví dụ sinh tháng Giêng nhuận thì tính theo tháng Hai. Tiện ích của Nhật Nguyệt giữ nguyên số tháng.

Sinh giờ Tý thì tính ngày nào để an sao?

Theo Tử Vi đẩu số tinh thành, ngày đổi lúc nửa đêm: người sinh từ 23h01 đến 24h vẫn thuộc giờ Tý của ngày hôm đó. Tử Vi tổng hợp của Nguyễn Phát Lộc thì viết ngày bắt đầu từ giờ Tý. Khoảng từ 23 giờ đến 0 giờ là chỗ hai lối tính cho hai ngày khác nhau; lá số Tử Vi của Nhật Nguyệt lấy đúng ngày đã nhập.

Vì sao cùng sinh tháng nhuận giờ Tý mà hai người lập số lại ra hai lá số khác nhau?

Vì Tử Vi Đẩu Số không có văn bản chuẩn duy nhất về lịch pháp. Sách Tử vi đẩu số Mệnh vận phân tích của Từ Tăng Sinh nhận xét rằng vấn đề tháng nhuận gây phiền nhiễu và mỗi người nói một phách, chưa ai đưa ra lý do khiến người khác hoàn toàn tín phục. Sách này ghi nhận cách dùng ngày 15 tháng nhuận làm mốc chia, trong khi Tử Vi đẩu số tinh thành lại lấy tháng sau. Khác quy ước thì cung Mệnh và nhiều sao an theo tháng đều lệch.

Bài này thuộc chủ đề Tử Vi Đẩu Số. Xem toàn bộ công cụ và bài viết về Tử Vi Đẩu Số.

Bài viết liên quan

Tra cứu liên quan

Nguồn tham khảo

  1. ↑ abVân Đằng Thái Thứ Lang (1956). Tử Vi đẩu số tân biên. Sài Gòn
  2. ↑ abcdefghNguyễn Phát Lộc. Tử Vi tổng hợp
  3. ↑ abcdefghijklTử Vi đẩu số tinh thành (紫微斗数精成), tập 1, phần 1. Bản dịch tiếng Việt
  4. ↑ abcTừ Tăng Sinh. Tử vi đẩu số Mệnh vận phân tích. Bản dịch tiếng Việt
#TửVi#ThángNhuận#GiờTý#LậpLáSốTửVi#TửViĐẩuSố#AnCungMệnh#ÂmLịch#TửViĐẩuSốTânBiên